Tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và năm 2018
In trang

I. Phát triển kinh tế

Tăng trưởng kinh tế tỉnh Lào Cai được duy trì ổn định. Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2018 đạt 10,23% . Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển biến theo hướng tích cực: Giảm tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp thủy sản (giảm 0,5% so với năm 2017), tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng (tăng 1,55% so với năm 2017) và dịch vụ (giảm 0,64% so với năm 2017). Cụ thể kết quả thực hiện của các ngành, lĩnh vực như sau:

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và phát triển nông thôn

a) Trồng trọt: Trong tháng 12 các địa phương tập trung chăm sóc, thu hoạch cây trồng vụ Đông; chuẩn bị giống, vật tư và các điều kiện cho sản xuất vụ Xuân năm 2019. Năm 2018, sản xuất lương thực được mùa, diện tích gieo trồng, năng suất, sản lượng cây trồng đều đạt và vượt KH và tăng so với năm 2017. Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2018 đạt 325.410 tấn (tăng 20.066 tấn so năm 2017), bằng 104,3% KH, tăng 6,57% CK.

Sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tiếp tục được đẩy mạnh triển khai, diện tích đạt 1.953 ha, bằng 101,2% so KH, tăng 58,8% so năm 2017; diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao đạt 12.851 ha, tăng 65,5% so năm 2017.

- Cây chè: Trồng mới 318,5 ha, (huyện Bát Xát 40ha, Bảo Yên 63,1 ha, Mường Khương 215,4 ha), đạt 102,7 % KH.

- Cây vụ Đông: Gieo trồng đạt 10.120 ha, bằng 101,2% KH, 119,5% so CK (ngô đông: 1.509,5 ha, rau, đậu các loại: 6.826 ha, dược liệu: 188,3 ha, cây thức ăn gia súc: 526 ha, khoai tây: 330,7 ha, khoai lang: 575,6 ha, hoa: 14 ha, cây trồng khác: 150 ha).

b) Chăn nuôi: Tháng 12 chăn nuôi tại các địa phương phát triển ổn định, không phát sinh dịch bệnh nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm; Giá lợn siêu nạc giao động từ 45.000-50.000 đồng/kg; giá lợn đen bản địa 52.000 - 60.000đồng/kg.

Nhìn chung năm 2018, trên địa bàn tỉnh chăn nuôi phát triển thuận lợi, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Tổng đàn gia súc đạt 672.166 con, tăng 0,4% so KH và 1,07% so CK, tổng đàn gia cầm đạt 4,008 triệu con, tăng 1,5% so với KH và 20,6% so CK. Sản lượng thịt xuất chuồng đạt 62.579 tấn, tăng 4,3% so KH và 4,6% so CK.

c) Lâm nghiệp:

Trồng rừng trong tháng 12  đạt 1.495 ha, lũy kế năm 2018 trồng 7.540 ha, đạt 125,7% KH (Rừng phòng hộ, đặc dụng 288 ha, rừng sản xuất 4.212 ha, trồng lại rừng 1.517,3 ha và dân tự trồng 1.522,7 ha); diện tích rừng được khoán và bảo vệ 175.054 ha đạt 100% kế hoạch; rừng được khoanh nuôi tái sinh 6.650 ha, đạt 100% so KH.

Công tác phòng, chống cháy rừng được thực hiện tốt, kết hợp với thời tiết thuận lợi (mưa nhiều) nên năm 2018 không xảy ra cháy rừng. Công tác kiểm tra các điểm khai thác, chế biến lâm sản, kiểm soát vận chuyển lâm sản, bảo vệ rừng được tăng cường. Trong tháng 12, phát hiện và xử lý 15 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, lũy kế năm 2018 phát hiện, xử lý 173 vụ, giảm 69 vụ (giảm 29%) so năm 2018.

d)  Phát triển nông thôn:

UBND tỉnh quyết định phê duyệt 9 xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2018, vượt KH 01 xã (gồm: Xã Làng Giàng, Tân An, huyện Văn Bàn; xã Mường Hum, Bản Xèo, huyện Bát Xát; xã Bản Mế, Cán Cấu, huyện Si Ma Cai; xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng; xã Tả Phìn, huyện Sa Pa; xã Thanh Bình, huyện Mường Khương). Như vậy, hết năm 2018 tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới của tỉnh là 44/143 xã, đạt 30,8%.

Năm 2018, chương trình xây dựng nông thôn mới được các cấp, các ngành tích cực chỉ đạo thực hiện. Tiếp tục duy trì các tiêu chí tại các xã đã hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới; đẩy mạnh triển khai thực hiện các phong trào xây dựng nông thôn mới theo hướng thực chất, bền vững và toàn diện hơn, kết quả nổi bật là: Toàn tỉnh đã thi công được 816,35/784,85 km đạt 103,04% KH, tăng 55 km so năm 2017; Xây dựng 9.678/9.750 nhà tiêu hợp vệ sinh, 3.465/3.363 chuồng trại gia súc hợp vệ sinh, 162/56 mô hình nhà sạch vườn đẹp, .... Công tác vận động tham gia hỗ trợ thực hiện Chương trình nông thôn mới đạt được kết quả tốt, năm 2018 đã vận động quyên góp được 13,8 tỷ đồng, 340.000 m2 đất; 266.000 công lao động và nhiều hiện vật khác.

Về sắp xếp dân cư: Trong tháng sắp xếp được 03 hộ, lũy kế 221 hộ, đạt 100% KH; trong đó: sắp xếp dân cư xen ghép 135 hộ, ổn định tại chỗ 86 hộ.

e) Tình hình thiên tai: Công tác phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai năm 2018 đã được các địa phương đã chủ động thực hiện và khắc phục theo phương châm 4 tại chỗ. Tuy nhiên, do diễn biến thời tiết bất thường dông lốc, mưa lũ, sạt lở đất cũng đã gây thiệt hại về người , thiệt hại về nhà cửa, tài sản, hoa màu của nhân dân, hạ tầng giao thông, công trình công cộng,...; tổng thiệt hại do thiên tai gây ra năm 2018 khoảng 700 tỷ đồng.

2. Sản xuất công nghiệp

Tháng 12, hoạt động sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì ổn định, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn (theo giá so sánh 2010) đạt 2.204 tỷ đồng, luỹ kế năm 2018 đạt 29.043 tỷ đồng, bằng 105,5% so với kế hoạch, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18%, công nghiệp điện nước tăng 12%, trong khi công nghiệp khai thác giảm mạnh gần 40%. Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp tăng so CK như: Phốt pho vàng (tăng 32,7%); Phôi thép (tăng 24,9%); Xi măng (tăng 41,7%); Cao lanh (tăng 10,5%); Điện thương phẩm (tăng 14%); ...

Trong năm 2018 có thêm 07 dự án thủy điện hoàn thành phát điện, nâng tổng số nhà máy thủy điện hoàn thành đi vào hoạt động toàn tỉnh là 49 dự án, phát điện với tổng công suất lắp máy 855,9 MW.

3. Thương mại, dịch vụ

a) Hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa:

Trong tháng 12, hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi động, các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019 đã được các doanh nghiệp kinh doanh thương mại quan tâm khai thác và dự trữ.  Tổng mức lưu chuyển bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 12 ước đạt 2.200 tỷ đồng tăng 1,6%  so với tháng trước, lũy kế năm 2018 đạt 23.238 tỷ đồng, tăng 13,5 % so CK.

Hoạt động xuất nhập khẩu qua cửa khẩu quốc tế đường bộ và đường sắt vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Các mặt hàng XNK chính vẫn tiếp tục tăng so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2017, đặc biệt là các mặt hàng nông sản. Tổng giá trị hàng hóa XNK tháng 12  đạt 316,4 triệu USD tăng 42,6% so với tháng trước, lũy kế năm 2018 đạt 3,010 tỷ USD, bằng 103,8% KH, tăng 14,3% so với CK.

Công tác quản lý thị trường: Lực lượng quản lý thị trường thường xuyên kiểm tra, kiểm soát thị trường nội địa; tích cực phối hợp với các lực lượng chức năng và địa phương liên quan kiểm soát nhằm ngăn chặn, phòng chống buôn lậu và vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới. Trong năm 2018, lực lượng quản lý thị trường đã tiến hành kiểm tra 2.877 vụ; phát hiện và xử lý 685 vụ (chiếm 23,8% tổng số vụ) với tổng giá trị xử phạt 5.754 tỷ đồng.

b) Du lịch: Năm 2018 hoạt động du lịch duy trì tăng trưởng. Hệ thống lưu trú phát triển; các sản phẩm du lịch được đa dạng hóa, chất lượng hơn với một số sản phẩm mới đặc sắc kết hợp với du lịch nghỉ dưỡng, văn hóa, thể thao; đẩy mạnh việc khai thác các di sản văn hóa và duy trì các hoạt động lễ hội tại các địa phương phát triển thành sản phẩm du lịch. Tổng lượng khách du lịch đến Lào Cai năm 2018 đạt 4,247 triệu lượt khách, bằng 106,2% KH, tăng 21,2% so CK. Tổng doanh thu du lịch đạt 13.406,37 tỷ đồng, bằng 111,7% KH, tăng 42% so CK.

c) Dịch vụ bưu chính, viễn thông: Mạng lưới dịch vụ bưu chính, viễn thông phát triển, đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh, nhu cầu thông tin liên lạc của nhân dân và công tác quản lý của các cơ quan, đơn vị. Tỷ lệ thuê bao internet/100 dân đạt 11,5 thuê bao, bằng 106% KH. Dịch vụ công nghệ thông tin phát triển, ứng dụng khá mạnh mẽ trong các lĩnh vực.

d) Hoạt động vận tải: Cơ bản đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa của nhân dân. Tổng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 12 đạt 346 tỷ đồng, lũy kế 3.697 tỷ đồng, tăng 17,3% so CK. Vận chuyển hành khách ước đạt 1.535,3 nghìn lượt khách, lũy kế 17.968 nghìn lượt, tăng 6,24% so CK. Vận tải hàng hoá ước đạt 889 nghìn tấn, lũy kế 9.851 nghìn tấn, tăng 14,3% so CK.

4. Tài chính, thanh toán vốn đầu tư XDCB; tín dụng và giá cả thị trường

a) Thu, chi ngân sách: Năm 2018, công tác thu ngân sách trên địa bàn tỉnh được triển khai quyết liệt, số thu đến hết ngày 31/12 đạt 8.368  tỷ đồng, bằng  107,3% dự toán HĐND tỉnh giao (bằng 148,3% dự toán Trung ương giao), trong đó: Thu thuế, phí và thu khác 4.643 tỷ đồng, đạt 101,5%  dự toán; thu tiền sử dụng đất 1.080 tỷ đồng, đạt 108% dự toán; thu từ XNK 2.305 tỷ đồng, đạt 128,1% tự toán. Tổng thu ngân sách địa phương 12.698 tỷ đồng, đạt 102,3% dự toán; Tổng chi ngân sách địa phương đạt 12.537 đạt 102,3% dự toán (không tinh số thu, chi chuyển nguồn năm 2017). Chi ngân sách đáp ứng các nhiệm vụ, đảm bảo các chế độ chính sách và hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị.

b) Thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản:

Kế hoạch đầu tư phát triển năm 2016, 2017 được phép chuyển nguồn sang năm 2018: Kết quả thực hiện đến ngày 31/12/2018 đạt 393,431 tỷ đồng, bằng 96 % KH. Số vốn còn lại chưa giải ngân: 14,348 tỷ đồng, gồm: 8,749 tỷ đồng  thuộc thẩm quyền UBND tỉnh; 5,649 tỷ đồng thuộc thẩm quyền Thủ tướng Chính phủ về thời hạn thanh toán.

Kế hoạch đầu tư phát triển năm 2018: Tổng các nguồn vốn giao 4.363 tỷ đồng, giải ngân đến 31/12/2018 đạt 3.490 tỷ đồng, bằng 80%KH. Số vốn còn lại chưa giải ngân 873 tỷ đồng, gồm: 173 tỷ đồng tiếp tục giải ngân đến 31/01/2019;  700 tỷ đồng sẽ đề nghị cấp có thẩm quyền cho phép kéo dài thực hiện sang năm 2019.

c) Hoạt động tín dụng: Tổng nguồn vốn huy động đến hết tháng 12 đạt 47.795 tỷ đồng, tăng 3.661 tỷ đồng (+8,3%) so với 31/12/2017. Dư nợ tín dụng 45.599 tỷ đồng, tăng 2.895 tỷ đồng (+6,78%) so với 31/12/2017. Tỷ lệ nợ xấu các ngân hàng thương mại ở mức an toàn 1,09%.

d) Giá cả một số mặt hàng: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 tăng 0,03% so với tháng trước, tăng 3,94% so với tháng 12/2017, bình quân cả năm tăng 3,24% so CK năm trước

5. Thu hút đầu tư, phát triển các thành phần kinh tế:

a) Thu hút đầu tư: Năm 2018 cấp mới quyết định đầu tư cho 27 dự án với tổng vốn đăng ký là 4.286 tỷ đồng, giảm 26 dự án  và giảm 4.775 tỷ đồng vốn đăng ký.  Không có dự án FDI được cấp mới; đến thời điểm hiện tại có 23 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 549,6 triệu USD.

b) Phát triển các thành phần kinh tế:

Năm 2017 thực hiện cấp mới đăng ký doanh nghiệp tổng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 375 doanh nghiệp (giảm 8,5% so CK), tổng vốn đăng ký 3.832 tỷ đồng;

Tổng số hợp tác xã (HTX) trên địa bàn tỉnh hiện có 398 hợp tác xã, tăng 28 HTX so với năm 2017; Tổng số trang trại là 552 trang trại, tăng 67 trang trại so năm 2017;  Làng nghề nông thôn được duy trì và phát triển với 17 nghề truyền thống, 11 làng nghề, 20 làng nghề truyền thống tăng 02 làng nghề so với CK. Các nghề truyền thống và làng nghề truyền thống được công nhận tập trung vào các nghề như thêu dệt thổ cẩm, nấu rượu, mây tre đan và chế biến thực phẩm, rèn đúc...

II. Văn hoá, xã hội

1. Hoạt động giáo dục

Trong tháng 12, các trường, cơ sở giáo dục tổ chức thi học kỳ I năm học 2018-2019; ngành Giáo dục và các địa phương đẩy mạnh đôn đốc duy trì tỷ lệ học sinh đi học chuyên cần, đặc biệt là ở các trường vùng cao, khó khăn.

Năm 2018, cơ sở vật chất, trường lớp học tiếp tục được tăng cường đầu tư gắn với quy hoạch, phát triển mạng lưới trường lớp học, quy mô giáo dục phù hợp, đáp ứng nhu cầu học tập, toàn tỉnh đã sáp nhập 109 trường thành 53 trường; gộp 261 điểm trường lẻ mầm non với tiểu học, xóa 34 điểm trường, đưa 10.732 học sinh ở điểm trường lẻ về trường chính; đến hết năm 2018 có 359/636 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 56,4%, tăng 29 trường so với năm học trước. Đứng tốp đầu trong các tỉnh miền núi phía Bắc

Phổ cập giáo dục các cấp học được duy trì vững chắc; Tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ đạt 24,8%; mẫu giáo đạt 96,2% (riêng 5 tuổi đạt 99,9%); trẻ 6-10 tuổi đạt 99,8% (riêng 6 tuổi đạt 99,9%); 11-14 tuổi đạt 99%; học sinh hoàn thành chương trình tiểu học lên lớp 6 đạt 98,2%. Công tác phân luồng, hướng nghiệp cho học sinh được tích cực thực hiện, kết quả có trên 70% học tốt nghiệp THCS học THPT, có 13% số học sinh đi học nghề; chú trọng công tác hướng nghiệp THPT, nên tỷ lệ học sinh học Đại học giảm 8% (từ 29% xuống 21%), số học sinh học nghề tăng, tỷ lệ này có ý nghĩa rất quan trọng, đảm bảo cân đối nguồn nhân lực, học sinh ra trường tạo nhiều cơ hội có việc làm hơn.

Năm 2018, xây dựng đủ nhà vệ sinh, nhà tắm cho trường bán trú và xây dựng nhà vệ sinh cho tất cả các cơ sở giáo dục, gồm 872 công trình, trong đó xây mới 524 công trình.

Đã thực hiện xong việc hợp nhất trường trung cấp Y tế, Cao đẳng Cộng đồng vào Cao đẳng Lào Cai; hoàn thiện đề án sáp nhập Cao đẳng Sư phạm vào Đại học Thái Nguyên trình Bộ Giáo dục đào tạo phê duyệt.

2. Hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao:

- Hoạt động thông tin, văn hóa, biểu diễn nghệ thuật, tuyên truyền cổ động của các cơ quan, đơn vị, địa phương  đã bám sát các nhiệm vụ chính trị của tỉnh, góp phần quan trọng trong việc phổ biến, tuyên truyền các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước tới mọi tầng lớp nhân dân. Trong năm, Đoàn Nghệ thuật dân tộc tỉnh đã giành được Huy chương vàng tại Liên hoan ca múa nhạc toàn quốc. Các cơ quan Báo, Đài, thông tin cơ sở đã chủ động tuyên truyền sâu rộng kết quả thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XV; triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018; thực hiện Chương trình xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, các gương điểm hình tiên tiến.

- Hoạt động thể thao: Hoạt động thể thao quần chúng phát triển khá mạnh với nhiều loại hình, nhiều môn thể thao. Trong năm 2018 đã tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Lào Cai lần thứ VI; Giải đua xe đạp “một đường đua hai quốc gia” Hồng Hà, Trung Quốc – Lào Cai, Việt Nam. Đã cử 29 đoàn VĐV tham gia thi đấu các giải thể thao khu vực và toàn quốc, kết quả giành được 88 huy chương các loại (gồm: 15 HCV, 16 HCB và 57 HCĐ), trong đó có 02 HCV tại Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc và 01 HCB môn cử tạ thế giới.

3. Y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng:

Công tác giám sát dịch bệnh trên người, Chương trình tiêm chủng mở rộng  được thực hiện thường xuyên, hiệu quả, không xảy ra các dịch bệnh nguy hiểm trên địa bàn tỉnh. Các bệnh truyền nhiễm thông thường đều được giám sát, phát hiện và điều trị kịp thời. Công tác khám chữa bệnh được thực hiện tốt ở các tuyến; khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em được quan tâm. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân đạt 105,98%.

Công tác tuyên truyền phòng chống ngộ độc thực phẩm, thanh tra, kiểm tra về vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường. Kiểm tra 11.885 cơ sở thực phẩm trên địa bàn tỉnh có 84% cơ sở đạt tiêu chuẩn vệ sinh . Trong năm 2018 xảy ra 02 vụ ngộ độc và 01 vụ  nhiễm độc thực phẩm (tại huyện Bảo Yên,  Bắc Hà, Si Ma Cai mỗi nơi 01 vụ) làm 66 người mắc và nhập viện điều trị khỏi ra viện, không có tử vong (giảm 09 vụ, giảm 81 người so năm 2017).

4. Giảm nghèo, giải quyết việc làm, đào tạo nghề và các vấn đề xã hội:

Năm 2018 tạo việc làm tăng thêm cho 14.613 lao động, đạt 116,9% KH, tăng 6,8% so năm 2017. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn đã tuyển sinh và đào tạo được 15.940  người, đạt 113% KH, tăng 1,2% so CK ; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 47,74% năm 2017 lên 50,32 năm 2018. Thực hiện tốt các chế độ đối với người lao động và các chính sách chế độ BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp .

Năm 2018, toàn tỉnh giảm được 8.382 hộ nghèo, tỷ lệ giảm nghèo tương ứng là 5,56%, vượt KH. Hộ nghèo còn lại là 27.346 hộ, chiếm tỷ lệ 16,25%; tổng số hộ cận nghèo là 19.680 hộ, chiếm tỷ lệ 11,69%. Các cấp, các ngành đã huy động sự đóng góp của cộng động và thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, các đối tượng xã hội, gia đình nghèo .

5. Hoạt động khoa học – công nghệ:

Năm 2018, trên địa bàn tỉnh triển khai thực hiện 50 đề tài, dự án; trong đó: 37 đề tài, dự án cấp tỉnh, 03 dự án nông thôn miền núi, 10 dự án chính sách; phối hợp quản lý 14 đề tài, dự án cấp Quốc gia. Các đề tài, dự án đảm bảo đúng tiến độ và nội dung được phê duyệt. Đã thu hút nguồn lực đáng kể phát triển khoa học, công nghệ với tổng số 85 tỷ đồng (từ Trung ương 12,5 tỷ, từ người dân, doanh nghiệp 72,5 tỷ đồng); thực hiện bàn giao 35 đề tài, dự án cho các sở, ngành, các huyện, thành phố ứng dụng vào thực tiễn, trong đó tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp đem lại hiệu quả cao

Năm 2018 có thêm 20 nhãn hiệu hàng hóa được bảo hộ, luỹ kế đến hết năm 2017 có 209 nhãn hiệu sản phẩm hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp đã được cấp bằng bảo hộ trên địa bàn tỉnh, các sản phậm được bảo hộ đã tạo góp phần tạo thêm việc làm, mở rộng sản xuất và thị trường.

III. Tài nguyên và Môi trường

Công tác thống kê đất đai, lập kế hoạch sử dụng đất năm 2018 trên địa bàn các huyện, thành phố đảm bảo tiến độ đạt 100% KH; Công tác đo đạc địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được tập trung thực hiện (cấp cho tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đạt và vượt KH giao); việc tách thửa đất nông nghiệp để tặng, chuyển nhượng và chuyển mục đích sử dụng đất trong vùng quy hoạch được quản lý, kiểm soát chặt chẽ hơn. Công tác quản lý quỹ đất công được quản lý chặt chẽ thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, thuê đất theo quy định. Trong năm 2018 đã triển khai thực hiện xong Kế hoạch tổng rà soát, kiểm tra việc sử dụng đất đai trên địa bàn tỉnh.

Công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản được chú trọng, thường xuyên kiểm tra, nắm tình hình, phát hiện và xử lý các vụ việc khai thác khoáng sản trái phép (quặng vàng, apatit,...); tăng cường tổ chức, kiểm tra việc khai thác cát, sỏi trên sông, suối; kiểm tra việc chấp hành quy định ký quỹ bảo vệ môi trường đối với một số tổ chức khai thác khoáng sản.

Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm, thường xuyên kiểm tra, giám sát môi trường; chỉ đạo khắc phục kịp thời những sự cố về môi trường và giải quyết những bức xúc của nhân dân đối với sai phạm về môi trường . Theo dõi nắm bắt thường xuyên diễn biến chất lượng nước Sông Hồng. Đẩy mạnh thực hiện Đề án phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị thành phố Lào Cai, thị trấn Bát Xát, Sa Pa.

Ứng phó với biến đổi khí hậu đã được triển khai lồng ghép vào các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Chính quyền các cấp đã chủ động hơn trong phòng tránh thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, tổ chức cứu hộ, cứu nạn, giảm thiểu thiệt hại.

IV. An ninh và đối ngoại

1. An ninh, trật tự an toàn xã hội: Công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm trong năm 2018 được tăng cường thực hiện, phong trào “toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc” được triển khai hiệu quả; an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh được giữ vững, ổn định; đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các sự kiện diễn ra trên địa bàn tỉnh. Các vụ việc liên quan đến an ninh nông thôn, an ninh đô thị đã được kịp thời giải quyết, khám phá nhanh các vụ trọng án, đảm bảo cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Trong tháng 12 phát hiện và xử lý 223 trường hợp xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc làm thuê. Trao trả cho Trung Quốc 01 trường hợp (sử dụng phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản); 40 trường hợp nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Tiếp nhận 02 trường hợp mãn hạn tù và 94 công dân Việt Nam nhập cảnh, cư trú trái phép trên lãnh thổ Trung Quốc do cơ quan chức năng Trung Quốc trao trả.

Xảy ra 109 vụ tội phạm, vi phạm pháp luật được phát hiện, xử lý, tăng 17 vụ so tháng 11. Tai tệ nạn xảy ra 15 vụ,  tăng 01 vụ so với tháng 11. Các vụ việc xảy ra trong tháng đã làm chết 11 người; bị thương 06 người (không tính số người chết, bị thương do tai nạn giao thông). Cơ quan chức năng đã khởi tố 22 vụ/26 bị can để điều tra, các vụ việc khác hiện đang tiến hành xác minh, làm rõ.

Tình hình an toàn giao thông: Tình hình trật tự an toàn giao thông trên toàn tỉnh năm 2018 được đảm bảo, công tác đảm bảo giao thông trên các tuyến cơ bản thông suốt, không để ách tắc kéo dài. Trong tháng 12, trên địa bàn tỉnh đã xảy 04 vụ tai nạn giao thông (giảm 02 vụ so tháng 11), làm 04 người chết, 05 người bị thương (giảm 03 người chết và 01 người bị thương so tháng 11). Tính chung năm 2018, tai nạn giao thông giảm mạnh: Xảy ra 83 vụ (giảm 46 vụ/36% so 2017), làm chết 46 người (giảm 6 người/12% so 2017), bị thương 90 người (giảm 65 người/42% so năm 2017), thiệt hại về tài sản ước trên 2,4 tỷ đồng.

3. Hoạt động đối ngoại:

Tiếp tục được mở rộng, chủ động triển khai cụ thể hóa nhiều hoạt động hợp tác với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), hợp tác với Vùng Nouvelle – Aquitaine (Cộng hòa Pháp), thỏa thuận với tỉnh Brest (Cộng hòa Bêlarút); thăm và làm việc với Bang Victoria (Úc); làm việc với nhiều đoàn công tác của Đại sứ quán các nước, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như Đại sứ quán Anh, Hoa Kỳ, Úc, Rumani... ; duy trì hợp tác với các tổ chức quốc tế (WB, ADB, AFD, KOICA, JICA, Cô-oét...); mở rộng hợp tác với các tỉnh như: Hà Nội, Hải Phòng, Lâm Đồng, Lai Châu, Thái Bình, Bình Dương; triển khai đẩy mạnh hợp tác với các các tập đoàn, doanh nghiệp kinh tế lớn (Điện lực, Bitexco, Sungroup, VNPT, Viettel…); tiếp tục hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học (Đại học Quốc gia, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Thái Nguyên, Viện Hàn lâm khoa học và Xã hội Việt Nam...).

V. Cải cách hành chính, xây dựng chính quyền, thực hành tiết kiệm chống lãng phí và tham nhũng

Trong năm, UBND tỉnh đã tích cực triển khai hoàn thiện Đề án thành lập thị xã Sa Pa trình các Bộ, ngành Trung ương và Chính phủ nhằm sớm được phê duyệt, đáp ứng yêu cầu về bộ máy quản lý nhà nước ở tất cả các lĩnh vực tại Sa Pa. Triển khai tốt Kế hoạch rà soát đánh giá, xây dựng phương án sáp nhập và thực hiện chính sách đối với thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh; năm 2018 đã thực hiện sáp nhập, giảm 110 thôn, tổ dân phố thuộc các huyện, thành phố. Đến hết năm 2018, đã sáp nhập giảm 299 thôn, tổ dân phố, từ 2.205 xuống còn 1.906 thôn, tổ dân phố (giảm 13,56%).

Thực hiện các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương, Chính phủ và của Tỉnh ủy Lào Cai, công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, luân chuyển cán bộ, rà soát quy hoạch, đào tạo cán bộ được tích cực triển khai trong năm 2018: Đã rà soát kiện toàn 90 Ban chỉ đạo, tổ chức phối hợp liên ngành (gồm giải thể 51 đầu mối và hợp nhất 13 đầu mối Ban Chỉ đạo); hợp nhất 02 cơ quan cấp tỉnh là Sở Xây dựng và Sở Giao thông vận tải; sáp nhập; sáp nhập Trường trung cấp Y tế, Cao đẳng Cộng đồng vào trường Cao đẳng Lào Cai; hợp nhất 07 đơn vị sự nghiệp thuộc sở và 18 đơn vị sự nghiệp thuộc cấp huyện ; thành lập 05 đơn vị sự nghiệp và tự chủ 100% kinh phí hoạt động (Trung tâm Phát triển quỹ đất thuộc các huyện); Quy định, tổ chức lại, kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy của 10 cơ quan hành chính, 30 đơn vị sự nghiệp; Giảm 07 cơ quan hành chính và 25 đơn vị sự nghiệp; Thực hiện tinh giản 358 người (công chức 22; viên chức 336 người), tổ chức thi tuyển 07 vị trí lãnh đạo, quản lý cấp sở, cấp phòng. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để chuẩn hóa đội ngũ cán bộ từ tỉnh đến xã được quan tâm.

Công tác cải cách tài chính công được quan tâm thực hiện, năm 2018 số đơn vị sự nghiệp được giao tự chủ tài chính tăng 39 đơn vị, số đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên tăng 20 đơn vị so với năm 2017, chuyển đổi 02 đơn vị do NSNN đảm bảo toàn bộ sang loại hình đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động; ban  hành 08 danh mục dịch vụ sự nghiệp công theo từng lĩnh vực làm cơ sở để nhà nước đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp dịch vụ công, thực hiện chuyển đổi phương thức giao dự toán theo biên chế “đầu vào” trước đây sang cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ theo sản phẩm “đầu ra” nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ sự nghiệp.

Việc rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính được đẩy mạnh; thực hiện cắt giảm tối thiểu 30% thời gian giải quyết 545 thủ tục hành chính, trong đó tập trung vào các thủ tục hành chính có tần suất giao dịch nhiều . Áp dụng một cửa, một cửa liên thông điện tử tại các sở, ngành cấp tỉnh; 9/9 huyện, thành phố; 164/164 xã, phường, thị trấn . Tiếp tục duy trì, cải thiện và tổ chức đánh giá, xác định hàng năm về chỉ số PCI, PAPI, DCI, SIPAS, PAR INDEX .

Công tác phòng, chống tham nhũng được các ngành, các cấp thường xuyên quan tâm chỉ đạo, đã góp phần nâng cao nhận thức về phòng, chống tham nhũng trong cán bộ, công chức và nhân dân. Năm 2018, đã tiến hành 52 cuộc thanh tra trách nhiệm thủ trưởng đơn vị về thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng đối với 131 đơn vị, thông qua thanh tra đã chuyển 02 vụ việc sang cơ quan Cảnh sát điều tra.

Công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được các cấp, các ngành chú trọng giải quyết theo quy định của pháp luật, không để xảy ra điểm nóng trên địa bàn./.
Nguồn: Báo cáo số 
10/BC-UBND  ngày 07/01/2019

Video tuyên truyền nông thôn mới
  • LÀO CAI HAI NĂM THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH OCOP
  • PS 02 năm xây dựng thôn kiểu mẫu, thôn nông thôn mới
  • PS KET QUA XAY DUNG NTM NHUNG THANG DAU NAM 2018
  • Xã Lương Sơn (Bảo Yên) đạt chuẩn Nông thôn mới
  • PS Tụt tiêu chí NTM
  • PS Phát triển kinh tế xây dựng NTM
  • Cốc Lầu phát triển kinh tế xây dựng Nông thôn mới
  • PS Cán bộ lãnh đạo giúp xã nông thôn mới
  • PS Thôn kiểu mẫu, thôn nông thôn mới
1 
Thống kê truy cập
  • Đang online: 89
  • Hôm nay: 2319
  • Trong tuần: 150,838
  • Tất cả: 44,325,002
Đăng nhập