Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai tháng 9 và 9 tháng năm 2025
CTTĐT - Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh cơ bản ổn định và có những tín hiệu tích cực. Quý III/2025 đánh dấu một giai đoạn đặc biệt quan trọng khi Lào Cai chính thức vận hành mô hình tỉnh mới sau sáp nhập. Trong bối cảnh vừa củng cố tổ chức bộ máy, vừa triển khai các nhiệm vụ phát triển, kinh tế - xã hội, tỉnh đã gặt hái được nhiều kết quả tích cực. Các lĩnh vực kinh tế duy trì đà tăng trưởng ổn định, môi trường đầu tư - kinh doanh tiếp tục được chú trọng cải thiện, hạ tầng trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ. Song song với đó, đời sống nhân dân được quan tâm chăm lo, các chính sách an sinh xã hội, giáo dục, y tế được thực hiện kịp thời, tạo niềm tin và đồng thuận trong toàn xã hội.
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2025 của tỉnh cơ bản ổn định và có những tín hiệu tích cực
1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu
(1) Tốc độ tăng trưởng GRDP ước đạt 7,38% thấp hơn 0,96 điểm phần trăm so với kịch bản tăng trưởng (kịch bản tăng trưởng là 8,34%), đứng thứ 4/9 các tỉnh khu vực Trung du miền núi Bắc Bộ và đứng thứ 22/34 tỉnh, thành phố;
(2) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của tỉnh tháng 9/2025 ước tăng 1,03% so với tháng 8/2025; tăng 22,03% so với cùng kỳ. Dự ước 9 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,71%. Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 9/2025 ước đạt 6.243,1 tỷ đồng, bằng 94,36% so với tháng trước. Lũy kế 9 tháng ước đạt 51.755 tỷ đồng, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2024, bằng 69,01% kế hoạch và bằng 97,2% kịch bản tăng trưởng 9 tháng năm 2025;
(3) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 9 năm 2025 ước đạt 8.000 tỷ đồng, tăng 6,1% so với tháng trước. Lũy kế 9 tháng ước đạt 56.095 tỷ đồng, tăng 4% so cùng kỳ, bằng 66% kế hoạch và bằng 94% kịch bản tăng trưởng 9 tháng năm 2025;
(4) Tổng giá trị xuất nhập khẩu, mua bán, trao đổi hàng hoá qua các cửa khẩu trong tháng 9/2025 ước đạt 318,21 triệu USD tăng 3,8% so với tháng trước. Luỹ kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 2.286 triệu USD giảm 25% so với cùng kỳ năm 2024, bằng 57,2% kế hoạch, tăng 1,2% so với kịch bản tăng trưởng 9 tháng năm 2025;
(5) Số lượt khách du lịch trong tháng 9 ước đạt 1,604 triệu lượt khách, lũy kế 9 tháng ước đạt 8,7 triệu lượt khách bằng 82,76% so với kế hoạch, bằng 98,1% kịch bản tăng trưởng 9 tháng năm 2025; doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng 9 đạt 3.709 tỷ đồng, lũy kế 9 tháng đạt 35.973 tỷ đồng, bằng 77,21% kế hoạch, bằng 91,8% kịch bản tăng trưởng 9 tháng năm 2025;
(6) Tổng thu ngân sách nhà nước trong 9 tháng năm 2025 đạt 13.547 tỷ đồng, bằng 100% dự toán Trung ương giao, bằng 64,5% dự toán tỉnh giao, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2024, tăng 0,4% so với kịch bản 9 tháng;
(7) Tổng vốn đầu tư phát triển tháng 9 ước đạt 7.430 tỷ, lũy kế 9 tháng ước đạt 54.400 tỷ đồng, đạt 64% kế hoạch, bằng 88,7% kịch bản tăng trưởng 9 tháng năm 2025;
(8) Tỷ lệ đô thị hóa ước đạt 28,7%;
(9) Số xã công nhận đạt chuẩn nông thôn mới đạt 37 xã, bằng 41,5% tổng số xã toàn tỉnh (Trong đó có 01 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao);
(10) Số lao động được tạo việc làm mới trong tháng 9 đạt 2.083 lao động, lũy kế 9 tháng đạt 24.863 lao động (bằng 82,88% kế hoạch năm);
(11) Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh ước đạt 97,4% kế hoạch năm, bảo đảm tiến độ để hoàn thành kế hoạch năm 2025 đạt 98%;
(12) Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom và xử lý ước đạt 95,3%, bằng 100% so với kế hoạch năm 2025;
(13) Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt nông thôn được thu gom và xử lý ước đạt 75,5%, bằng 100% so với kế hoạch năm 2025;
(14) Tỷ lệ che phủ rừng đạt 61,5% bằng 100% kế hoạch năm 2025.
2. Kết quả thực hiện theo lĩnh vực
2.1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và phát triển nông thôn
9 tháng năm 2025, khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản dự ước tăng 5,19% thấp hơn 0,35 điểm phần trăm so với kế hoạch (kế hoạch là 5,54%), đóng góp 0,85 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung của toàn tỉnh (kế hoạch dự kiến đóng góp 0,91 điểm %).
a) Trồng trọt
Tình hình sản xuất, cung ứng vật tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh ổn định, trong tháng không xảy ra dịch bệnh nguy hiểm đối với cây trồng. Các cây trồng được gieo trồng đảm bảo tiến độ và khung lịch thời vụ. Dự ước đến hết quý III năm 2025, tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 375.668 tấn, bằng 58,1% kế hoạch năm, trong đó sản lượng thóc ước đạt 202.899 tấn, sản lượng ngô ước đạt 172.769 tấn.
Đối với vụ Hè thu: Diện tích lúa đã cấy 9 tháng ước đạt 46.010 ha, bằng 100,4% kế hoạch, và bằng 89,9% so với cùng kỳ. Sản lượng lúa đã thu hoạch dự ước 9 tháng đạt 32.992 tấn, bằng 13,9% kế hoạch, bằng 99,8% so với cùng kỳ. Diện tích ngô đã trồng 9 tháng ước đạt 28.155 ha, bằng 100% kế hoạch và bằng 93,1% so với cùng kỳ. Sản lượng ngô đã thu hoạch 9 tháng ước đạt 42.568 tấn, bằng 36% kế hoạch, bằng 92,2% so với cùng kỳ.
Đối với sản xuất vụ Đông, đã trồng được: 60 ha ngô, 05 ha cây rau các loại, 08 ha cây hoa trồng.
b) Chăn nuôi - Thuỷ sản
Chỉ đạo các địa phương thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết để có biện pháp chủ động ứng phó kịp thời với những ảnh hưởng xấu của thời tiết gây ra. Tích cực thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh cũng như công tác kiểm dịch và vận chuyển động vật và sản phẩm từ động vật. Tổng đàn gia súc chính ước đạt 1.499.560 con, bằng 96,3% kế hoạch, tăng 3% so với cùng kỳ. Tổng đàn gia cầm ước đạt 13,073 triệu con, cao hơn kế hoạch 0,2%, và tăng 5,3% so với cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng các loại trong tháng 9 ước đạt 12.065 tấn, lũy kế 9 tháng ước đạt 120.085 tấn, bằng 75,5% kế hoạch và tăng 6,7% so với cùng kỳ.
Về tình hình dịch bệnh trên địa bàn: Dịch tả lợn Châu Phi hiện đang diễn biến khó lường. Trong tháng, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 1.985 hộ, 206 thôn thuộc 23 xã, phường, số lợn tiêu hủy là 13.723 con (bao gồm mắc bệnh, chết, buộc phải tiêu hủy), khối lượng tiêu hủy 747.264 kg. Thêm 10 xã, phường đã qua 21 ngày không phát sinh ổ dịch mới, 02 xã tái phát ổ dịch.
Tổng diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản ước đạt 4.910,05 ha, bằng 100,21% kế hoạch năm; nuôi cá lồng đạt 2.872 lồng, bằng 100,7% kế hoạch năm; sản lượng thủy sản trong tháng ước đạt 2.062 tấn, lũy kế ước đạt 20.580 tấn, bằng 73,5% kế hoạch năm. Sản phẩm nuôi trồng thủy sản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của tỉnh; đồng thời sản xuất thủy sản của tỉnh còn cung ứng ra thị trường ngoài tỉnh khoảng 10 - 20%. Công tác sản xuất và cung ứng giống thủy sản (cá hương, cá giống các loại) trong tháng 9 đạt 8,5 triệu con, lũy kế đạt 60,5 triệu con.
c) Lâm nghiệp
Công tác quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng được chú trọng triển khai thực hiện. Trồng rừng tập trung ước đạt 12.300,5 ha, tăng 8% so với cùng kỳ. Khoanh nuôi tái sinh được 8.199,9 ha, bằng 96,5% so với cùng kỳ. Bảo vệ tốt diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng, rừng sản xuất là rừng tự nhiên với tổng diện tích là 493.105 ha, bằng 98% so với cùng kỳ. Lũy kế diện tích trồng Quế từ đầu năm đến nay (theo Nghị quyết 10 của Lào Cai cũ) đạt 5.669,64 ha (trong đó: Trồng mới ước đạt 841,42 ha, trồng lại rừng ước đạt 4.828,22 ha).
Khai thác gỗ tính đến hết tháng 9 toàn tỉnh ước đạt 891.141 m3, tăng 6% so với cùng kỳ (trong đó khai thác chính ước đạt 691.081 m3, khai thác cây phân tán ước đạt 200.090 m3); Khai thác cành, lá, vỏ quế khô ước đạt 207,3 nghìn tấn (trong đó khai thác được 169 nghìn tấn cành lá quế; 37,3 nghìn tấn vỏ quế); chiết xuất được 210,3 tấn tinh dầu. Lâm sản khác, lũy kế đến thời điểm báo cáo ước đạt 86.329 tấn các loại. Khai thác củi lũy kế từ đầu năm đến nay ước đạt 777.372 m³.
d) Phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới
Trong tháng không có sản phẩm mới được công nhận. Lũy kế đã công nhận được 62/54 sản phẩm OCOP mới, đạt 114,8% so với kế hoạch năm 2025. Toàn tỉnh đã đánh giá, phân hạng được 605 sản phẩm, trong đó có 02 sản phẩm 5 sao, 52 sản phẩm đạt 4 sao, 551 sản phẩm đạt 3 sao (03 sản phẩm tiềm năng 4 sao).
Về kinh tế hợp tác: (1) Hợp tác xã: Lũy kế từ đầu năm đến nay thành lập mới 30 Hợp tác xã nông nghiệp và giải thể 12 Hợp tác xã nông nghiệp, toàn tỉnh hiện có 804 Hợp tác xã (trong đó có 599 Hợp tác xã đang hoạt động; 130 Hợp tác xã ngừng hoạt động chờ giải thể, 75 Hợp tác xã xin tạm ngừng hoạt động). (2) Tổ hợp tác: Lũy kế thành lập mới được 83 tổ hợp tác, toàn tỉnh hiện có 2.801 tổ hợp tác nông nghiệp, với trên 12.000 thành viên. Về kinh tế trang trại: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 120 trang trại (115 trang trại chăn nuôi, 02 trang trại nuôi trồng thủy sản, 01 trang trại trồng trọt và 02 trang trại tổng hợp).
đ) Phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn
Trong tháng 9/2025, trên địa bàn tỉnh Lào Cai xảy ra 04 đợt thiên tai gây thiệt hại về người và tài sản. Ngoài ra, mưa dông lớn gây thiệt hại về cơ sở hạ tầng, đường giao thông và tài sản khác. Lũy kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 24 đợt thiên tai (do mưa lũ và rét đậm, rét hại) làm 17 người chết và mất tích; 18 người bị thương; 14.559 nhà ở; 5.816,7 ha diện tích lúa, ngô, rau màu, cây lâm nghiệp bị thiệt hại, ảnh hưởng; Lũ cuốn trôi 21 con trâu, bò, 13.817 con gia cầm; thiệt hại ao nuôi cá khoảng 135,142 ha; 213 công trình thủy lợi bị hư hỏng, thiệt hại; 65 trường học, 27 điểm trường sạt taluy; 07 nhà văn hóa thôn; 17 Trạm y tế bị thiệt hại, hư hỏng, tốc mái; nhiều công trình giao thông và tuyến đường bị sạt lở và hư hỏng nặng. Ước tổng giá trị thiệt hại trên địa bàn tỉnh trên 2.820 tỷ đồng.
Riêng tình hình thiệt hại do ảnh hưỡng hoàn lưu cơn bão số 10 (Bualoi) gây ra trên địa bàn: Người bị chết và mất tích: 10 người (trong đó: người chết: 08 người; mất tích: 02 người); người bị thương: 12 người; thiệt hại 11.981 ngôi nhà; tổng diện tích cây trồng bị thiệt hại, ảnh hưởng: 5.898,7 ha, thiệt hại về chăn nuôi: 11.815 con gia cầm bị chết, cuốn trôi, 10 con trâu, bò, 174 con lợn; nhiều nhà máy thủy điện, cơ sở hạ tầng và tài sản của nhân dân bị ảnh hưởng nặng nề. Ước thiệt hại ban đầu khoảng 2.750 tỷ đồng.
Trước những ảnh hưởng và thiệt hại rất lớn do hoàn lưu bão số 10 gây ra, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các xã, phường và các lực lượng chức năng khẩn trương khắc phục hậu quả mưa lũ, cụ thể: (1) Về công tác cứu hộ, cứu nạn và di dời các hộ bị ảnh hưởng: Thành lập tổ công tác phối hợp các lực lượng tại thôn để tổ chức tìm kiếm cứu hộ cứu nạn; tổ chức di dời và bố trí chỗ ở tạm thời cho các hộ gia đình bị ảnh hưởng; (2) Về công tác bảo đảm an sinh xã hội: Tổ chức thăm hỏi, trao hỗ trợ cho người bị thương nặng do bão lũ, sạt lở đất; hỗ trợ tạm thời cho 100% hộ gia đình có nhà bị sập đổ hoàn toàn; bố trí khám và chữa bệnh cho nhân dân nơi sơ tán và tại chỗ; Bố trí nơi ăn, ở tạm thời và cung cấp những vật dụng thiết yếu cho các hộ dân bị thiệt hại ổn định cuộc sống; (3) Về công tác khắc phục bước đầu các công trình cơ sở hạ tầng và sản xuất kinh doanh trên địa bàn đã được tập trung chỉ đạo đến thời điểm hiện tại đã cơ bản khôi phục trở lại... Đến thời điểm hiện nay đã cơ bản ổn định đời sống nhân dân.
2.2. Sản xuất công nghiệp, xây dựng cơ bản
a) Sản xuất công nghiệp
Khu vực Công nghiệp dự ước tăng 6,72% thấp hơn 1,86 điểm phần trăm so với kế hoạch (kế hoạch là 8,58%), đóng góp 1,61 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung của toàn tỉnh (kế hoạch dự kiến đóng góp 2,09 điểm %);
Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai từ đầu năm 2025 đến nay còn gặp rất nhiều khó khăn. Tuy có sự vào cuộc tháo gỡ của Ủy ban nhân dân tỉnh, cùng các cấp, các ngành nhưng giá trị sản xuất công nghiệp trong quý I vẫn không đạt như kỳ vọng. Bước sang quý II, hoạt động sản xuất công nghiệp bắt đầu có dấu hiệu khởi sắc hơn. Các dự án khai thác, tuyển quặng apatit, luyện đồng hoạt động ổn định, sản lượng sản xuất và tiêu thụ đều cao hơn. Đặc biệt trong quý III, giá bán các sản phẩm phốt pho vàng và phân bón có sự khởi sắc hơn đầu năm 2025, lượng hàng tồn kho không nhiều. Tuy nhiên các đơn vị sản xuất hóa chất chỉ hoạt động với công suất từ 60-85% so với công suất thiết kế do nguồn cung nguyên liệu apatit không đảm bảo. Các doanh nghiệp chế biến chè, sắn đã vào vụ thu hoạch chính. Bên cạnh đó, sản lượng điện phát, điện thương phẩm tăng, do vào mùa mưa, thời tiết thuận lợi cho các nhà máy thuỷ điện chạy tối đa công suất phát điện. Đặc biệt, Dự án Nhà máy Gang thép của công ty TNHH KS&LK Việt Trung đi vào hoạt động sau 3 năm tạm dừng góp phần làm tăng đáng kể giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Công tác quản lý Nhà nước về khoáng sản luôn được theo dõi, bám sát tình hình, nắm bắt các khó khăn của các đơn vị và kịp thời đề xuất những giải pháp tháo gỡ. Trên địa bàn tỉnh Lào Cai hiện có 48 dự án khai thác, chế biến khoáng sản nhóm I, trong đó có 12 dự án khai thác quặng apatit; 05 dự án khai thác quặng đồng; 16 dự án khai thác quặng sắt; 03 dự án khai thác quặng graphit; 06 dự án khai thác chì kẽm; 02 dự án khai thác than; 02 dự án khai thác thạch anh; 01 dự án khai thác đất hiếm; 01 dự án khai thác quặng secpentin.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Lào Cai có 199 dự án thủy điện nằm trong Quy hoạch, với tổng công suất lắp máy 2956 MW, cụ thể: Có 105 dự án đã hoàn thành phát điện, với tổng công suất lắp máy 1.768,85 MW. Có 14 dự án thủy điện đang thi công xây dựng với tổng công suất lắp máy 154,8 MW, trong đó có 11 dự án đang triển khai thi công, 03 dự án đang tạm dừng thi công. Có 19 dự án thuỷ điện đã được cấp chủ trương đầu tư đang hoàn thiện các thủ tục pháp lý để khởi công, với tổng công suất lắp máy 217,4 MW. Có 61 dự án thủy điện đã có trong Quy hoạch với tổng công suất 805,5 MW được phê duyệt bổ sung công suất tăng thêm thuỷ điện tại Quyết định 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Theo quy hoạch đã được phê duyệt, tỉnh Lào Cai có 14 dự án điện mặt trời, với quy mô công suất 1.761 MW, 03 dự án điện gió trên bờ; có 04 dự án điện sinh khối; có 02 dự án điện rác.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của tỉnh tháng 9/2025 tăng 1,03% so với tháng trước; tăng 22,03% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,71% so với cùng kỳ. Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 9/2025 ước đạt 6.243,1 tỷ đồng, bằng 94,36% so với tháng trước. Lũy kế ước đạt 51.755 tỷ đồng, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2024, bằng 69,01% kế hoạch, bằng 97,2% so với kịch bản tăng trưởng 9 tháng năm 2025.
b) Xây dựng cơ bản
Khu vực Xây dựng dự ước tăng 7,23% thấp hơn 1,53 điểm phần trăm so với kế hoạch (kế hoạch là 8,76%), đóng góp 0,70 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung của toàn tỉnh (kế hoạch dự kiến đóng góp 0,84 điểm %);
Đẩy nhanh các dự án thi công trọng điểm trên địa bàn tỉnh. Triển khai, thực hiện 04 Chương trình phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh; 02 Kế hoạch về phát triển đô thị; đồng thời tổ chức đánh giá, phân loại đô thị thường niên. Giải quyết những khó khăn vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư các công trình, dự án quan trọng, các dự án thu tiền sử dụng đất có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội, nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, tổ chức đấu thầu, đấu giá, thực hiện có hiệu quả các dự án có thu tiền sử dụng đất trên địa bàn. Tính đến ngày 17/9/2025, tỷ lệ đô thị hóa ước đạt 28,7%.
Trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm đang triển khai 48 dự án nhà ở thương mại với 10.108 căn nhà riêng lẻ và 259 căn chung cư, thi công 03 dự án phát triển nhà ở xã hội với tổng số 3.685 căn, diện tích đất 8,42 ha; hoàn thiện các thủ tục để chuẩn bị khởi công 05 dự án nhà ở xã hội với tổng số khoảng 3.013 căn; dự kiến năm 2025 hoàn thành 1.580 căn hộ.
2.3. Lĩnh vực thương mại dịch vụ, du lịch
a) Hoạt động thương mại, dịch vụ
Khu vực Dịch vụ dự ước tăng 9,18%, thấp hơn 0,60 điểm phần trăm so với kế hoạch (kế hoạch là 9,78%), đóng góp 3,90 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung của toàn tỉnh, là khu vực đóng góp lớn nhất vào mức tăng trưởng chung (kế hoạch dự kiến đóng góp 4,14 điểm %).
9 tháng đầu năm 2025 thị trường tương đối ổn định, hàng hóa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất của các doanh nghiệp và tiêu dùng của nhân dân. Giá cả các mặt hàng như lương thực, thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu không có biến động lớn. Qua công tác kiểm tra, giám sát thị trường kịp thời phát hiện các dấu hiệu bất thường, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm đã góp phần giữ vững ổn định thị trường, trong tháng không xảy ra hiện tượng đầu cơ, găm hàng hay tăng giá bất hợp lý. Các cơ quan, địa phương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, tích cực trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp, tập trung cho việc xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp tìm đơn hàng mới, mở rộng thị trường. Nổi bật trong tháng 9 trung tâm thương mại GO! Yên Bái đã chính thức khai trương đưa vào hoạt động, sự kiện đã thu hút đông đảo nhân dân đến tham quan mua sắm, với diện tích hơn 4.600 m², cung cấp hơn 40.000 sản phẩm thiết yếu, góp phần kích thích tiêu dùng, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, tăng doanh thu dịch vụ và tạo việc làm lao động địa phương, mang đến một không gian mua sắm, vui chơi, giải trí hiện đại cho nhân dân.
Công tác quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại như: Khuyến mại, hội chợ triển lãm, các chương trình khuyến mại được thực hiện nghiêm túc đảm bảo đúng quy định của pháp luật,... Rà soát tình hình thực hiện chính sách giai đoạn 2021-2025, đề xuất ban hành chính sách giai đoạn 2026-2030 về lĩnh vực xúc tiến thương mại, mời các doanh nghiệp tham gia các chương trình Hội chợ trong nước và quốc tế như: “Vietnam Phở Festival” năm 2025 tại Singapore; Hội nghị kết nối kinh doanh & đầu tư Việt Nam - Quốc tế 2025... Tập trung vào các công việc liên quan đến tổ chức Hội chợ Thương mại Quốc tế Việt - Trung (Lào Cai) lần thứ 25, năm 2025.
Chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 9 tăng 0,23% so với tháng trước và tăng 2,2% so với tháng 12/2024. Chỉ số giá tiêu dùng quý III/2025 tăng 0,83% so với quý trước. Các nhóm hàng tăng chủ yếu bao gồm nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, nhóm nhà ở chất đốt và vật liệu xây dựng,… Diễn biến trên cho thấy nhu cầu tiêu dùng và sản xuất đang phục hồi, đồng thời cũng phản ánh tác động từ sự gia tăng chi phí đầu vào, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng và vật liệu xây dựng. Mức tăng CPI ở mức hợp lý, phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4% trong năm 2025 của Chính phủ, song đặt ra yêu cầu cần tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp bình ổn thị trường, đảm bảo cân đối cung cầu, nhất là đối với các mặt hàng lương thực, thực phẩm và dịch vụ thiết yếu. giá vàng biến động theo giá vàng thế giới và có chiều hướng tăng so với tháng trước, bình quân giá vàng tháng 9/2025 tăng 6,57% do nhiều yếu tố như chính sách tiền tệ toàn cầu, căng thẳng địa chính trị và khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất trở nên rõ ràng hơn.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 9 năm 2025 ước đạt 8.000 tỷ đồng, tăng 6,1% so với tháng trước. Lũy kế thực hiện 9 tháng ước đạt 56.095 tỷ đồng, tăng 4% so cùng kỳ, bằng 66% kế hoạch, bằng 94% kịch bản tăng trưởng 9 tháng năm 2025.
b) Xuất nhập khẩu
Trong 9 tháng đầu năm 2025, hoạt động xuất nhập khẩu của tỉnh Lào Cai gặp rất nhiều khó khăn khi bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, vẫn có một số điểm sáng như giá trị nhập khẩu đang tiếp đà tăng trưởng với mức tăng 21,41% so với cùng kỳ năm 2024, các mặt hàng nhập khẩu chủ đạo như nông sản, phân bón các loại, điện năng, phốt pho vàng, phốt pho đỏ, sản phẩm từ lâm sản, khoáng sản, nhựa, may mặc, sứ cách điện, tơ tằm đều tăng mạnh; đặc biệt sau khi nhà máy gang thép Việt Trung đi vào hoạt động trở lại nhu cầu nhập khẩu hàng thiết bị, than cốc cũng đã tăng mạnh so với cùng kỳ. Các mặt hàng như phốt pho vàng, phốt pho đỏ và sản phẩm từ lâm sản, khoáng sản, nhựa, may mặc và một số ít các sản phẩm khác như sứ cách điện, tơ tằm,... của tỉnh sản xuất xuất khẩu cũng tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm 2024.
Tại cửa khẩu quốc tế đường bộ số II Kim Thành, hoạt động thông quan hàng hóa vẫn thuận lợi và không xảy ra hiện tượng ùn tắc tại khu vực cửa khẩu. Mặt hàng xuất khẩu vẫn chủ yếu là các mặt hàng truyền thống: gỗ ván bóc, trái cây tươi, sắn khô, bánh kẹo, giày dép, hàng phốt pho xuất chuyển cửa khẩu...; nhập khẩu: phân bón; rau, củ quả các loại; than cốc; hoá chất; bánh kẹo; máy móc thiết bị, năng lượng điện…; Tổng giá trị hàng hóa thông quan các loại hình đều tăng so với tháng trước trong đó giá trị nhập khẩu chiếm tỷ trọng cao các mặt hàng rau củ quả, than cốc tăng mạnh so với tháng trước. Lượng phương tiện thông quan tại cửa khẩu duy trì trung bình khoảng 495 xe/ngày, trong đó: xe xuất khẩu 70 xe/ngày; nhập khẩu 425 xe/ngày.
Về xuất nhập khẩu, thương mại biên giới: Tiếp tục rà soát, nắm bắt các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh (đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường Mỹ khi Mỹ áp thuế 20%), kịp thời báo cáo khó khăn vướng mắc để hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng giá trị xuất khẩu nhằm hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm 2025.
Tổng giá trị xuất nhập khẩu, mua bán, trao đổi hàng hoá qua các cửa khẩu trong tháng 9/2025 ước đạt 318,21 triệu USD tăng 3,8% so với tháng trước. Luỹ kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 2.286 triệu USD, giảm 25% so với cùng kỳ năm 2024, bằng 57,2% so với kế hoạch, tăng 1,2% so với kịch bản tăng trưởng 9 tháng.
c) Du lịch
Tháng 9, lượng khách đến Lào Cai có sự tăng trưởng rõ rệt so với tháng 8, phản ánh sức hút ngày càng lớn của điểm đến trong thời điểm giao mùa thu đông. Trong tháng 9, trên địa bàn tỉnh cũng đồng thời diễn ra nhiều sự kiện văn hóa, tâm linh truyền thống, đặc sắc như Lễ hội đền Bảo Hà, Lễ hội Đền Nghĩa Đô cộng với lợi thế mùa vụ đã góp phần đánh dấu sự tăng trưởng trở lại với tổng lượt khách ước đạt 1,604 triệu lượt khách, tăng 20,3% so với tháng 8. Trong đó, khách quốc tế đạt 126.493 lượt, tăng 20,6% so với tháng 8, chiếm 11,8% tổng lượt khách. Tổng thu tháng 9 ước đạt 3.709 tỷ đồng. Luỹ kế đến hết tháng 9/2025, Lào Cai ước đón 8,71 triệu lượt khách, bằng 82,76% kế hoạch năm, bằng 98,1% kịch bản; doanh thu ước đạt 35.973 tỷ đồng, bằng 77,21% kế hoạch năm, bằng 91,8% kịch bản; trong đó, khách quốc tế ước đạt 1,052 triệu lượt.
Sự tăng trưởng mạnh mẽ cả về khách nội địa và quốc tế trong tháng qua đã khẳng định Lào Cai tiếp tục là điểm đến hấp dẫn hàng đầu của khu vực Tây Bắc - nơi hội tụ cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ, bản sắc văn hóa độc đáo cùng nhiều sản phẩm du lịch trải nghiệm giàu sức cạnh tranh. Thành quả này không chỉ phản ánh sức hút ngày càng lớn của du lịch Lào Cai mà còn cho thấy địa phương đang khai thác linh hoạt lợi thế mùa vụ, văn hóa và cảnh quan để phát triển du lịch theo hướng bền vững, tạo dấu ấn khác biệt trên bản đồ du lịch quốc gia và khu vực.
Tiếp tục duy trì hiệu quả hoạt động thông tin, xúc tiến, thị trường, nhân lực và sản phẩm du lịch. Trong tháng, hệ thống Nhà du lịch tại Lào Cai, Sa Pa, Bắc Hà, Y Tý đã phục vụ khoảng 10.000 lượt du khách. Công tác xúc tiến, quảng bá được triển khai có trọng điểm trong và ngoài tỉnh (Thanh Hóa, Điện Biên, TP. Hồ Chí Minh) cũng như quốc tế (Vân Nam - Trung Quốc); đồng thời ứng dụng mạnh mẽ nền tảng số để phát triển thị trường. Lào Cai không ngừng đẩy mạnh liên kết, hợp tác du lịch trong nước và quốc tế thông qua các chương trình hợp tác với 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng, TP. Hồ Chí Minh, hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, hợp tác song phương với Vân Nam (Trung Quốc), vùng Nouvelle Aquitaine (Pháp) và các lĩnh vực du lịch nông nghiệp. Song song, tỉnh tham mưu phục vụ quản lý nhà nước về du lịch, gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025 - 2030, các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án hạ tầng, cơ chế thu hút nguồn vốn FDI và dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực du lịch.
2.4. Về thu, chi ngân sách, huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển
a) Về thu, chi ngân sách
Công tác thu ngân sách nhà nước trên địa bàn duy trì ổn định và có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm 2024. Tỉnh Lào Cai không ngừng hỗ trợ tổ chức triển khai hiệu quả các giải pháp tài chính - ngân sách nhằm thực hiện dự toán ngân sách nhà nước theo đúng quy định pháp luật. Đẩy mạnh cơ cấu chi ngân sách nhà nước theo hướng giảm chi thường xuyên để dành nguồn lực cho chi đầu tư phát triển tiến tới phát triển toàn diện.
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thực hiện lũy kế 9 tháng năm 2025 đạt 13.547 tỷ đồng, bằng 100% dự toán Trung ương giao, bằng 64,5% dự toán tỉnh giao, bằng 100% kịch bản thu 9 tháng, bằng 62% kịch bản năm và tăng 30% so với cùng kỳ năm 2024.
Tổng chi ngân sách địa phương 9 tháng đạt 31.929 tỷ đồng, bằng 97% dự toán Trung ương giao, bằng 62% dự toán tỉnh giao và tăng 33% so với cùng kỳ.
b) Hoạt động tín dụng
Thị trường tiền tệ tiếp tục ổn định, các chi nhánh ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân luôn duy trì thực hiện và bảo đảm tốt khả năng chi trả, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế và nhu cầu vay vốn của các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách xã hội. Nguồn vốn huy động tại địa phương ước đạt 97.900 tỷ đồng, tăng 13,3% so với thời điểm 31/12/2024, chiếm 70,1% tổng nguồn vốn. Các ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân đã chủ động huy động nguồn vốn trên địa bàn, giảm sự phụ thuộc nguồn vốn trụ sở chính. Tổng dư nợ cho vay đến 30/9/2025 ước đạt 120.500 tỷ đồng, tăng 6,4% so với thời điểm ngày 31/12/2024. Nguồn vốn tín dụng đáp ứng tốt nhu cầu người dân, doanh nghiệp. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng/tổng dư nợ trên địa bàn tỉnh ở ngưỡng an toàn dưới 1%.
c) Về giải ngân vốn đầu tư công
Đến nay tỉnh Lào Cai đã giao là 15.119.911 triệu đồng (trong đó: đã giao chi tiết 14.748.645 triệu đồng bằng 97,5% kế hoạch; chưa giao chi tiết: 371.265 triệu đồng bằng 2,5% kế hoạch).
Tính đến hết ngày 30/9/2025, đã giải ngân đạt 7.245,4 tỷ đồng, bằng 47,9% kế hoạch, cao hơn so với cùng kỳ năm 2024 (cùng kỳ năm 2024 tỉnh Yên Bái đạt 40%, tỉnh Lào Cai cũ đạt 43%).
Riêng đối với kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao: Giải ngân đạt 6.626,2 tỷ đồng/kế hoạch 9.047,9 tỷ đồng, bằng 73,2% kế hoạch, cao hơn so với trung bình cả nước (cả nước đạt 52%), đứng thứ 04/34 tỉnh.
d) Công tác quản lý đầu tư trong và ngoài nước:
Tỉnh Lào Cai không ngừng tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ các nhà đầu tư và doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhất là về thủ tục đất đai, đầu tư, xây dựng, tín dụng, thuế, hải quan…; kịp thời thu hồi các dự án đã được cấp quyết định chủ trương đầu tư nhưng không triển khai thực hiện. Công tác cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh được đẩy mạnh; công bố công khai việc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp để biết và giám sát việc thực hiện.
Lũy kế đến hết tháng 9/2025, đã cấp quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư cho 38 dự án, với số vốn đăng ký đầu tư tương đương 11.671,7 tỷ đồng; 67 dự án FDI còn hiệu lực với số vốn đăng ký đạt 1.082,66 triệu USD.
đ) Phát triển doanh nghiệp
Trong tháng 9 đã thực hiện cấp giấy chứng nhận đăng ký mới cho 80 doanh nghiệp và 54 đơn vị trực thuộc, tăng 12,5% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký đạt 709 tỷ đồng; đăng ký tạm ngừng hoạt động 35 doanh nghiệp, giảm 5,7% so với cùng kỳ; giải thể 23 doanh nghiệp, giảm 15% so với cùng kỳ; hoạt động trở lại 45 doanh nghiệp, tăng 17% so với cùng kỳ.
Lũy kế từ đầu năm đến nay, thực hiện cấp giấy chứng nhận đăng ký mới cho 920 doanh nghiệp và 534 đơn vị trực thuộc, tăng 18% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký đạt 7.574 tỷ đồng; đăng ký tạm ngừng hoạt động cho 1.089 doanh nghiệp, tăng 21% so với cùng kỳ; giải thể 220 doanh nghiệp, tăng 25,7% so với cùng kỳ. Hoạt động trở lại 314 doanh nghiệp, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 6.800 doanh nghiệp đang hoạt động.
2.5. Phát triển văn hóa - xã hội
a) Lĩnh vực Giáo dục
Tập trung xây dựng kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo góp phần nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục, đào tạo trên địa bàn toàn tỉnh. Trong tháng, ngành Giáo dục và Đào tạo Lào Cai đã tập trung chỉ đạo các cơ sở giáo dục xây dựng kế hoạch năm học 2025 - 2026, ban hành hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học, triển khai mô hình “Trường học hạnh phúc” và tổ chức thành công các hội nghị triển khai nhiệm vụ năm học ở các cấp học. Công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên được chú trọng, với hơn 60 lớp tập huấn, trên 3.200 học viên tham gia. Hoàn thiện đề án phát triển giáo dục giai đoạn 2026 -2030, đồng thời tham mưu đầu tư xây dựng trường phổ thông nội trú tại 9 xã biên giới; tổ chức tập huấn quản lý tài chính, tài sản công và hướng dẫn chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 được tổ chức an toàn, tỷ lệ tốt nghiệp toàn tỉnh đạt trên 99%. Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia và các cuộc thi khoa học kỹ thuật, khởi nghiệp tiếp tục gặt hái kết quả nổi bật, với 128 giải quốc gia và 1 học sinh đoạt huy chương quốc tế. Thực hiện kế hoạch tuyển dụng gần 2.000 giáo viên, đồng thời điều phối trên 900 giáo viên hợp đồng để kịp thời đáp ứng nhu cầu năm học mới.
Đến nay toàn tỉnh có 765 trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia (chiếm hơn 75%), duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục ở tất cả các cấp, tỷ lệ xóa mù chữ tiếp tục được giữ vững. Trong tháng đã tuyển sinh đào tạo nghề cho 2.545 người trình độ sơ cấp và đào tạo nghề dưới 3 tháng. Lũy kế đến tháng 9/2025 đã tuyển sinh đào tạo nghề cho 16.442 người (đạt 55,7% kế hoạch); trong đó: Cao đẳng 1.151 người, trung cấp 3.340 người, trình độ sơ cấp và đào tạo nghề dưới 3 tháng 11.951 người (hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn cho 1.549 người).
b) Lĩnh vực văn hoá thể thao, thông tin và truyền thông
Các hoạt động phục vụ văn hóa cơ sở triển khai theo kế hoạch: Chiếu phim lưu động, tuyên truyền lưu động gần 20 buổi tại các xã Cao Sơn, Gia Phú, Xuân Quang, Tằng Loỏng. Triển khai nhiệm vụ tuyên truyền cổ động trực quan, trang trí khánh tiết phục vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 -2030. Tổ chức triển lãm tranh mỹ thuật chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh. Thực hiện chiếu phim "Chốt đơn", "Mưa đỏ", “Cánh đồng hoang”; “Ngã ba Đồng Lộc”; “Hà Nội 12 ngày đêm lịch sử”,… phục vụ hơn 2.000 lượt khách.
Trong tháng tham gia 06 giải thể thao thành tích cao toàn quốc, đạt 41 huy chương các loại (15 Huy chương vàng, 17 Huy chương bạc, 09 Huy chương đồng). Lũy kết 9 tháng đã tham gia 49/57 giải, đạt 85,96% kế hoạch giao với 207 huy chương các loại, đạt 243,5% kế hoạch (51 Huy chương vàng, 58 Huy chương bạc, 98 Huy chương đồng). Tổ chức 3 giải thể thao trong tỉnh; Trong 9 tháng, đã tổ chức 21/34 giải, bằng 61,7% kế hoạch. Hướng dẫn, phối hợp, hỗ trợ các cơ quan, đơn vị, sở, ngành trong tỉnh tổ chức 07 giải thể thao. Tuyển chọn, tập huấn, chuẩn bị lực lượng vận động viên tham gia thi đấu Giải vô địch bắn nỏ, bắn ná quốc gia lần thứ VIII năm 2025 theo kế hoạch. Duy trì công tác đào tạo huấn luyện đối với 380 vận động viên thuộc 22 bộ môn. Chú trọng công tác xây dựng và phát triển phong trào thể dục thể thao ở cơ sở, tạo nguồn vận động viên cho tuyến tỉnh cũng như bảo tồn, phát triển các môn thể thao dân tộc. Triển khai kế hoạch thải loại vận động viên thuộc 22 bộ môn.
Công tác thông tin, truyền thông được triển khai đồng bộ, bám sát yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Kịp thời cung cấp thông tin chính thống và định hướng dư luận đối với các vấn đề nổi cộm nhân dân quan tâm. Đẩy mạnh tuyên truyền đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 theo chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy. Theo đó, đã chia làm 04 đợt cao điểm để tổ chức tuyên truyền với nội dung cụ thể, bám sát thực tiễn của địa phương góp phần tạo không khí phấn khởi, củng cố niềm tin, đóng góp quan trọng vào thành công Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.
c) Lĩnh vực Y tế
Tập trung xây dựng kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tiếp tục chỉ đạo các ngành và địa phương triển khai linh hoạt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh gắn với nhiệm vụ năm 2025. Trong tháng 9, tình hình dịch bệnh cơ bản ổn định, không phát hiện ca bệnh/ổ dịch nguy hiểm. Tuy nhiên, các bệnh truyền nhiễm có xu hướng mắc cao hơn so với cùng kỳ năm trước như: Cúm, sởi, ho gà, Adeno, viêm gan vi rút, tiêu chảy,... Bệnh truyền nhiễm có xu hướng giảm như: Viêm não vi rút, thủy đậu, quai bị. Tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy đủ trẻ dưới 1 tuổi đạt 75%. Tỷ lệ tiêm phòng viêm gan B sơ sinh trong cơ sở y tế có phòng sinh đạt 98%. Tỷ lệ tiêm vắc xin viêm gan B sơ sinh so với trẻ dưới 1 tuổi 9 tháng đạt 57,2%. Trong tháng 9, đã khám, chữa bệnh cho 245.353 lượt người; lũy kế đến thời điểm hiện tại, đã khám, chữa bệnh cho 2.711.394 lượt người; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 95,43%.
d) An sinh xã hội
Trong tháng 9/2025: Đã giải quyết việc làm cho 2.083 lao động; trong đó từ chương trình phát triển kinh tế xã hội: 1.013 người, vay vốn Quỹ quốc gia giải quyết việc làm 416 người, xuất khẩu lao động 34 người, cung ứng lao động tỉnh ngoài: 620 người.
Lũy kế đến hết tháng 9/2025: Đã giải quyết việc làm cho 24.863 lao động đạt 82,88% kế hoạch năm; trong đó từ chương trình phát triển kinh tế - xã hội 7.371 người, vay vốn Quỹ quốc gia giải quyết việc làm 7.954 người, xuất khẩu lao động 701 người, cung ứng lao động tỉnh ngoài 8.837 người.
Về chuyển dịch cơ cấu lao động: Trong tháng 9 đã chuyển dịch được 497 lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, lũy kế đến 9 tháng năm 2025 đã chuyển dịch được 6.299 lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, đạt 89,99% kế hoạch. Các lĩnh vực chuyển dịch chủ yếu gồm: Sản xuất công nghiệp, xây dựng, du lịch, kinh doanh, bán hàng,…
đ) Về khoa học công nghệ, chuyển đổi số
- Lĩnh vực khoa học, công nghệ: Công tác quản lý khoa học, công nghệ, sở hữu trí tuệ được chú trọng, với tổng số 65 nhiệm vụ khoa học công nghệ, trong đó đã nghiệm thu 17 nhiệm vụ và đang triển khai 48 nhiệm vụ khác. Công tác hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được mở rộng đến các trường học và cộng đồng. Các hoạt động quản lý công nghệ, sở hữu trí tuệ và đổi mới sáng tạo đã đạt nhiều kết quả rõ nét, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Lĩnh vực chuyển đổi số, kết quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW
Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và Ban Chỉ đạo cấp tỉnh đã tập trung cao cho công tác chỉ đạo, điều hành, bảo đảm sự thống nhất, xuyên suốt từ tỉnh đến cơ sở, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả triển khai nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 57. Toàn bộ 7 nhiệm vụ Trung ương mới giao trong năm 2025 đã được tỉnh hoàn thành 100% ngay từ đầu kỳ, thể hiện quyết tâm chính trị cao và sự vào cuộc kịp thời của cả hệ thống chính trị. Riêng các nhiệm vụ cụ thể hóa của tỉnh đã hoàn thành 11/22 nhiệm vụ. Tăng cường các giải pháp nâng cao nhận thức, quyết tâm chính trị, sự lan tỏa trong toàn xã hội về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
100% cơ quan nhà nước cấp tỉnh và 99/99 xã, phường đã được kết nối thông suốt, bảo đảm phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành từ tỉnh đến cơ sở. Toàn bộ cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, cấp xã đều có mạng LAN, kết nối Internet, và 100% cán bộ, công chức đã được trang bị máy tính phục vụ công việc.
Lào Cai hiện có 76 cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Trong số này, đã có 24 cơ sở dữ liệu được xây dựng và đưa vào sử dụng. Đã thực hiện kết nối 16 hệ thống thông tin của các Bộ, ngành Trung ương thông qua trục LGSP. Việc hình thành và kết nối các cơ sở dữ liệu đã giúp từng bước khắc phục tình trạng phân tán dữ liệu, góp phần cải thiện chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Qua đó nhiều thủ tục hành chính được rút ngắn từ 30 - 50% thời gian xử lý.
2.6. Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường
Thường xuyên, chủ động và ban hành các văn bản hướng dẫn, đôn đốc, yêu cầu các cơ sở, sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh thực hiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên nước như: Hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên nước; Thực hiện quy định đối với vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt; Đôn đốc nộp báo cáo định kỳ hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước; Tháo gỡ, khó khăn vướng mắc cho các đơn vị trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật; tham mưu cho lãnh đạo sở điều chỉnh giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt đối với các công trình trên địa bàn tỉnh.
Ban hành 02 Quyết định phê duyệt Kế hoạch đấu giá quyền khai thác khoáng sản gồm 13 điểm mỏ. Thực hiện việc rà soát, đánh giá 109 giấy phép khai thác khoáng sản còn hiệu lực được cơ quan có thẩm quyền cấp cho 93 tổ chức khai thác trên địa bàn tỉnh (Yên Bái cũ) với 14 loại khoáng sản khác nhau và 54 giấy phép hết hiệu lực. Thực hiện rà soát, báo cáo tổng thể hiện trạng trữ lượng, thực trạng cấp phép, quản lý và kết quả khai thác của các mỏ vật liệu xây dựng thông thường (cát, đá, sỏi) trên địa bàn toàn tỉnh; kiểm tra hoạt động khai thác khoảng sản (tỉnh Lào Cai cũ) 18 mỏ (trong đó: 08 mỏ đã cấp giấy phép, 06 mỏ cấp Bản xác nhận; 04 mỏ (tăng 01 mỏ) kiểm tra bàn giao xác định chỉ giới, mốc giới; 01 mỏ trả lại giấy phép khai thác khoáng sản). Tỉnh ban hành 02 Quyết định thu hồi Giấy phép khai thác khoáng sản; cấp, ban hành 07 Giấy phép khai thác khoáng sản; 01 Quyết định đóng cửa mỏ; cấp 06 bản xác nhận đăng ký khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường trong diện tích đất dự án đầu tư công trình; 13 Quyết định phê duyệt tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản với số tiền là 18,6 tỷ đồng.
Công tác quản lý nhà nước về môi trường tiếp tục được đẩy mạnh (làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát ô nhiễm, không để xảy ra điểm nóng về môi trường, không phát sinh các điểm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng mới; quản lý, theo dõi khí thải tại khu công nghiệp Tằng Loỏng và trạm quan trắc tự động liên tục không khí xung quanh và trạm quan trắc tự động, liên tục nước sông Hồng; rà soát, giám sát các cơ sở và đã kiến nghị xử lý vi phạm; các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép, tình trạng mất an toàn bãi thải, hồ đập đối với các nhà máy khai thác, chế biến khoáng sản ...).
2.7. Quốc phòng, an ninh và đối ngoại
a) Quân sự - quốc phòng
Quán triệt và triển khai hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, trực sẵn sàng phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc. Thực hiện tốt chính sách đối với quân đội, hậu phương quân đội và công tác dân vận; củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh toàn diện. Tăng cường giáo dục quốc phòng, an ninh toàn dân; đẩy mạnh huấn luyện, nâng cao chất lượng lực lượng dân quân, tự vệ. Khu vực phòng thủ tỉnh, huyện được xây dựng ngày càng vững chắc. Chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia được giữ vững; đường biên, mốc giới, cửa khẩu được quản lý chặt chẽ; công tác xuất nhập cảnh, quản lý người nước ngoài được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định
b) Công tác bảo đảm an ninh, trật tự
Bảo đảm an toàn tuyệt đối các đoàn lãnh đạo Đảng, nhà nước, các sự kiện quan trọng trên địa bàn tỉnh, tiêu biểu là Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn về cơ bản ổn định. Lực lượng công an là nòng cốt đã phối hợp chặt chẽ với các cấp các ngành tích cực, chủ động triển khai kế hoạch đảm bảo an ninh các địa bàn có tiềm ẩn phức tạp về an ninh trật tự, luôn chủ động trong mọi tình huống, không để xảy ra các vụ việc phức tạp. Trong tháng 09/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông, chết 10 người, bị thương 15 người. So sánh với tháng 9 năm 2024 số vụ tai nạn giảm 07 vụ (17/24), số người chết giảm 03 người (10/13), số người bị thương giảm 17 người (15/32). Tình hình tai nạn giao thông 9 tháng (từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/9/2025), trên địa bàn tỉnh xảy ra 203 vụ tai nạn giao thông, chết 84 người, bị thương 209 người. So sánh với 9 tháng năm 2024 số vụ tai nạn giảm 67 vụ (203/270), số người chết giảm 24 người (84/108), số người bị thương giảm 25 người (209/234).
c) Hoạt động đối ngoại
Tiếp tục triển khai các nghị quyết, chỉ thị của trung ương, bộ, ngành về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội; các hiệp định thương mại tự do. Trong 9 tháng đầu năm 2025, tỉnh Lào Cai đã tổ chức thành công Hội nghị xúc tiến đầu tư “Gặp gỡ 2025 Lào Cai” với sự tham dự của Lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương cùng hàng trăm nhà đầu tư, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Hoạt động đối ngoại tiếp tục được đẩy mạnh, đã chủ động triển khai các hoạt động về ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa khai, thực hiện các hoạt động để tăng cường tình hữu nghị với các địa phương có quan hệ truyền thống như tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); Vùng Nouvelle Aquitaine, tỉnh Val-de-Marne (Cộng hòa Pháp); tỉnh Viêng Chăn, tỉnh Xay Nhạ Bu Ly (CHDCND Lào) và mở rộng quan hệ đối ngoại với các đối tác nước ngoài khác như: Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Israel, Thái Lan, Singapore, Belarus. Thiết lập quan hệ hợp tác với thành phố Itaperuna (Rio de Janeiro, Brazil). Đón tiếp và làm việc với đoàn tiền trạm của Bộ Ngoại giao vào khảo sát, trao đổi về công tác chuẩn bị cho chương trình “Việt Nam - EU: Mầm xanh cho tương lai”. Thông tin tới các Cơ quan, đơn vị trong tỉnh triển khai đến các doanh nghiệp quan tâm về Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - Thuỵ Sĩ 2025 do Đại sứ quán Việt Nam tại Thụy Sỹ phối hợp với Tổ chức Diễn đàn Kinh tế Thụy Sĩ - Việt Nam (SVEF) tổ chức.
Lũy kế 9 tháng đã giải quyết thủ tục đoàn ra cho 352 đoàn/1.610 người. Trong đó, 109 đoàn/748 người đi công tác, 243 đoàn/862 người đi việc riêng. Đoàn vào: đã giải quyết thủ tục cho 303 đoàn khoảng 2189 người vào tỉnh. Trong đó, 58 đoàn (649 người) đến từ Trung Quốc; 153 đoàn (974 người) đến từ các nước Anh, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Indonesia, Philippines, Nga, Ấn Độ, Pháp, Úc, New Zealand; 92 đoàn (566 người) là đoàn của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, các cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam..., với mục đích vào triển khai các hoạt động trong khuôn khổ dự án đang tài trợ trên địa bàn tỉnh.
2.8. Về cải cách thủ tục hành chính
Các hoạt động trong tháng vừa qua tại các Trung tâm phục vụ hành chính công diễn ra thông suốt, ổn định không bị gián đoạn trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương 02 cấp được áp dụng thực hiện. Tính đến thời điểm báo cáo, tỉnh đã ban hành 69 Quyết định công bố Danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các sở, ban, ngành, 516 thủ tục hành chính Ủy ban nhân dân các xã, phường (trong đó: 248 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thay thế; 146 thủ tục hành chính ban hành mới; 122 thủ tục hành chính bị bãi bỏ); cập nhật kịp thời các thủ tục hành chính lên Cơ sở dữ liệu Quốc gia về thủ tục hành chính và đăng tải lên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, đảm bảo việc kết nối, tích hợp dữ liệu thủ tục hành chính với 14 Trang thông tin điện tử của các sở, ban, ngành, 99 trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Đến ngày 15/9/2025, có 946 thủ tục hành chính được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Trong tháng 9 tổng số hồ sơ tiếp nhận là 82.965 hồ sơ (trong đó 9.722 hồ sơ từ kỳ trước), có 71.479 hồ sơ trực tuyến chiếm 97,6%; hồ sơ giải quyết trước và đúng hạn là 72.700 hồ sơ, đạt 87,63%. Tiếp tục ứng dụng (app) Cổng dịch vụ công của tỉnh trên nền tảng thiết bị thông minh đi vào hoạt động để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp tra cứu, nộp hồ sơ trực tuyến, thanh toán trực tuyến được thuận lợi. 100% tài khoản của công dân khi thực hiện giải quyết thủ tục hành chính đều thực hiện đăng nhập thông qua ứng dụng VNeID của Bộ Công an nhằm xác thực thông tin chính xác, đầy đủ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tổ chức và cá nhân.
Báo cáo số 123/BC-UBND Tải về
Tải về