Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai tháng 8 và 8 tháng năm 2025
Lượt xem: 989

1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu

(1) Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 8/2025 ước đạt 6.730,6 tỷ đồng. Luỹ kế 8 tháng ước đạt 45.625 tỷ đồng, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2024, bằng 60,83% kế hoạch;

(2) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 8 năm 2025 ước đạt 6.900 tỷ đồng, tăng 6,1% so với tháng trước. Ước tính 8 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 48.095 tỷ đồng, tăng 6% so cùng kỳ, đạt 57% kế hoạch;

(3) Tổng giá trị xuất nhập khẩu, mua bán, trao đổi hàng hoá qua các cửa khẩu trong tháng 8/2025 ước đạt 277.5 triệu USD tăng 13,39% so với tháng trước. Lũy kế 8 tháng thực hiện ước đạt 1.925,05 triệu USD, giảm 26,2% so với cùng kỳ năm 2024, đạt 48,13% kế hoạch;

(4) Số lượt khách du lịch trong 8 tháng ước đạt 8.285.092 lượt khách bằng 80,79% kế hoạch; doanh thu từ hoạt động du lịch trong 8 tháng ước đạt 34.607 tỷ đồng bằng 74,5% kế hoạch;

(5) Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đến hết tháng 8 đạt 12.450 tỷ đồng, bằng 59% dự toán tỉnh giao, bằng 130,5% so với cùng kỳ năm 2024.

(6) Số xã công nhận đạt chuẩn nông thôn mới 37/41 xã, đạt 41,5% tổng số xã toàn tỉnh (Có 01/37 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao);

(7) Số lao động được tạo việc làm mới trong tháng 8 đạt 1.804 lao động, lũy kế 8 tháng đạt 22.780 lao động (đạt 75,93% kế hoạch năm);

(8) Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh ước đạt 97% kế hoạch năm, bảo đảm tiến độ để hoàn thành kế hoạch năm 2025 đạt 98%;

(9) Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom và xử lý đạt 95% kế hoạch năm, bảo đảm tiến độ để hoàn thành kế hoạch năm 2025 đạt 95,3%;

(10) Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt nông thôn được thu gom và xử lý ước đạt 74% kế hoạch năm, bảo đảm tiến độ để hoàn thành kế hoạch năm 2025 đạt 75,5%;

(11) Tỷ lệ che phủ rừng đạt 61,5%, đạt 100% kế hoạch năm 2025.

2. Kết quả cụ thể

2.1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và phát triển nông thôn

a) Trồng trọt

Tình hình sản xuất, cung ứng vật tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh ổn định, không xảy ra dịch bệnh nguy hiểm đối với cây trồng. Các cây trồng được gieo trồng đảm bảo tiến độ và khung lịch thời vụ. Tiếp tục triển khai rà soát, hợp nhất dữ liệu vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

Tính đến tháng 8 toàn tỉnh đã hoàn thành việc cấy lúa vụ Hè thu, diện tích lúa đã cấy được 46.010 ha, đạt 100,4% kế hoạch, bằng 101% so với cùng kỳ. Trong tháng 8, trồng được 6.987 ha ngô, lũy kế trồng được 28.144 ha ngô, đạt 99,9% so với kế hoạch năm và bằng 93% so với cùng kỳ.

b) Chăn nuôi - Thuỷ sản

Tiếp tục theo dõi diễn biến thời tiết, tích cực thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh cũng như công tác kiểm dịch và vận chuyển động vật và sản phẩm từ động vật. Tổng đàn gia súc thực hiện 1,504 triệu con, đạt 96,6% kế hoạch năm và bằng 103% so với cùng kỳ; tổng đàn gia cầm 13,05 triệu con, đạt 99,8% kế hoạch năm và bằng 107,18% so với cùng kỳ; sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong tháng 8 ước đạt 13.673 tấn, lũy kế ước đạt 108.020 tấn, đạt 67,9% kế hoạch năm và bằng 102,9% so với cùng kỳ.

Trong tháng, tình hình bệnh Dịch tả lợn Châu Phi diễn biến phức tạp. Tính từ 14/7/2025 đến hết ngày 13/8/2025 bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 1.461 hộ, 321 thôn thuộc 37 xã, phường, số lợn tiêu hủy là 9.646 con (bao gồm mắc bệnh, chết, buộc phải tiêu hủy), khối lượng tiêu hủy 547.315,9 kg.

Tổng diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản: 4.910,05 ha, đạt 99,8 % kế hoạch năm; nuôi cá lồng 2.872 lồng, đạt 100,7% kế hoạch năm; sản lượng thủy sản trong tháng đạt 2.113 tấn, lũy kế 17.624 tấn, đạt 55,4% kế hoạch năm. Sản phẩm nuôi trồng thủy sản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của tỉnh; đồng thời sản xuất thủy sản của tỉnh còn cung ứng ra thị trường ngoài tỉnh khoảng 10 - 20%. Công tác sản xuất và cung ứng giống thủy sản (cá hương, cá giống các loại) trong tháng 8 đạt 10,1 triệu con, lũy kế đạt 52 triệu con.

c) Lâm nghiệp

Công tác quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng được chú trọng triển khai thực hiện. Trồng rừng tập trung 11.868,7 ha (trong đó: trồng mới rừng sản xuất 1.048,2 ha; trồng rừng thay thế chuyển mục đích sử dụng 129,3 ha; trồng lại rừng 10.691,2 ha). Trồng cây xanh phân tán 6,967 triệu cây, quy ra diện tích là 6.967,5 ha. Lũy kế diện tích trồng Quế từ đầu năm đến nay 5.468,3 ha (trồng mới 778,2 ha, trồng lại rừng 4.690,1 ha).

Khai thác gỗ lũy kế từ đầu năm đến nay toàn tỉnh khai thác 838.981,1 m3 gỗ (trong đó khai thác chính: 673.586,4 m3, khai thác cây phân tán: 165.394,7 m3); loài cây khai thác chủ yếu gồm: Keo, Bạch đàn, Quế, Bồ đề, Mỡ, Sa mộc, Tống quá sủ, Trẩu, Xoan,... Lũy kế khai thác cành, lá, vỏ quế khô đạt 206,2 nghìn tấn (169 nghìn tấn cành lá quế; 37,2 nghìn tấn vỏ quế khô). Lũy kế chiết xuất được 193,2 tấn tinh dầu (hiện còn tồn khoảng 50 tấn). Lâm sản khác, lũy kế đến thời điểm báo cáo ước đạt 86.307 tấn các loại. Khai thác củi lũy kế từ đầu năm đến nay 757.863 ste.

d) Phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới

Công tác thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia (MTQG) giảm nghèo năm 2025: Tổng kinh phí sử dụng trong năm 2025 là 1.069.343 triệu đồng: Vốn đầu tư 312.591 triệu đồng. Vốn sự nghiệp 756.752 triệu đồng. Kết quả giải ngân đến thời điểm báo cáo 273.281 triệu đồng, đạt 26% kế hoạch vốn giao và đạt 28% so với kế hoạch vốn đã giao cho các cơ quan, đơn vị, Ủy ban nhân dân cấp xã, trong đó: Vốn đầu tư: 112.361 triệu đồng, đạt 36% kế hoạch vốn Trung ương (TW) giao; Vốn sự nghiệp: 160.920 triệu đồng, đạt 21% so với kinh phí TW phân bổ, đạt 24% so với kinh phí đã phân bổ cho các cơ quan, đơn vị, Ủy ban nhân dân  cấp xã thực hiện.

Công tác thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới: Nguồn vốn giao năm 2025: 318.538 triệu đồng (trong đó: Vốn đầu tư phát triển 243.760 triệu đồng, vốn sự nghiệp 74.778 triệu đồng). Nguồn vốn đã thực hiện phân bổ 287.557 triệu đồng (trong đó: Vốn đầu tư phát triển 243.760 triệu đồng, vốn sự nghiệp 43.797 triệu đồng). Nguồn vốn chưa phân bổ: 30.981 triệu đồng (nguồn vốn sự nghiệp giao tỉnh Yên Bái). Kết quả giải ngân: Vốn đầu tư phát triển lũy kế đến tháng 8/2025 đạt 220.645 triệu đồng, bằng 90,5% kế hoạch; kết quả giải ngân nguồn vốn sự nghiệp đạt 7.152 triệu đồng, bằng 16,32% kế hoạch.

Công tác phát triển kinh tế tập thể: Trong 8 tháng thành lập mới 30 hợp tác xã nông nghiệp và giải thể 12 hợp tác xã nông nghiệp , lũy kế toàn tỉnh có 804 hợp tác xã (trong đó có 599 hợp tác xã đang hoạt động; 130 hợp tác xã ngừng hoạt động chờ giải thể, 75 hợp tác xã xin tạm ngừng hoạt động. Trong 8 tháng thành lập mới được 83 tổ hợp tác, lũy kế toàn tỉnh có 2.801 tổ hợp tác nông nghiệp, với trên 12.000 thành viên. Về kinh tế trang trại: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 120 trang trại (115 trang trại chăn nuôi, 02 trang trại nuôi trồng thủy sản, 01 trang trại trồng trọt và 02 trang trại tổng hợp).

đ) Phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn

Trong tháng 8, trên địa bàn tỉnh Lào Cai xảy ra một số đợt mưa dông gây thiệt hại chủ yếu về sản xuất nông nghiệp. Lũy kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 20 đợt thiên tai (do mưa lũ và rét đậm, rét hại) làm 06 người chết; 05 người bị thương; gây thiệt hại cho 1.427 nhà ở; 465,232 ha diện tích lúa, ngô, rau màu, cây lâm nghiệp; lũ cuốn trôi 09 con trâu, 2.000 con gia cầm; thiệt hại ao nuôi cá khoảng 21,8ha (nước ngập tràn ao), gia cầm bị mất trôi khoảng 2.000 con; 01 hộ bị sạt lở chuồng nuôi gia cầm với diện tích 200m2; 01 hộ bị sạt lở ao nuôi cá diện tích khoảng 1,5m3; tràn bờ, vỡ bờ 2,54 ha ao cá; 08 công trình thủy lợi bị hư hỏng, thiệt hại; Nhiều công trình giao thông và tuyến đường bị sạt lở và hư hỏng nặng;… Ước tổng giá trị thiệt hại trên địa bàn tỉnh trên 40 tỷ đồng.

2.2. Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Hoạt động sản xuất công nghiệp trong tháng 8/2025 cơ bản không có nhiều biến động so với tháng 7/2025. Giá trị sản xuất công nghiệp giảm nhẹ. Mặc dù đã có những nỗ lực vào cuộc của tỉnh nhưng các khó khăn, vướng mắc của các đơn vị vẫn chưa được giải quyết triệt để (như công tác giải phóng mặt bằng; nguồn vốn; nguồn cung nguyên liệu...). Riêng đối với lĩnh vực điện năng, đây là tháng có khí hậu thời tiết khá thuận lợi cho các dự án thuỷ điện. Hệ thống cung cấp điện đảm bảo an toàn, liên tục, ổn định cho sản xuất, sinh hoạt tại tất cả các khu vực trong tỉnh.

Về hoạt động sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp: Trên địa bàn tỉnh Lào Cai sau hợp nhất hiện có 83 dự án khai thác khoáng sản được cấp phép khai thác, trong đó có 12 dự án khai thác quặng apatit; 05 dự án khai thác quặng đồng; 16 dự án khai thác quặng sắt; 03 dự án khai thác quặng graphit; 34 dự án khai thác đá hoa trắng; 06 dự án khai thác chì kẽm; 02 dự án khai thác than; 02 dự án khai thác thạch anh; 01 dự án khai thác đất hiếm; 01 dự án khai thác quặng secpentin và 01 dự án khai thác nước khoáng nóng.

Về hóa chất và môi trường: Từ đầu năm 2025 đến nay, giá bán các sản phẩm phốt pho vàng có sự khởi sắc hơn so với cùng kỳ năm 2024 (hiện nay giá bán khoảng 4.000 USD/tấn), lượng hàng tồn kho không nhiều.

Về thủy điện: Tính đến thời điểm báo cáo số lượng các nhà máy thủy điện đang phát điện 108 công trình với tổng công suất 1.768,85 MW, điện lượng trung bình hàng năm đạt khoảng 6,8 tỷ kWh. Trong thời gian qua, thời tiết trên địa bàn tỉnh xảy ra mưa nhiều, nhiều nơi có nguy cơ sạt lở, lũ quét vì vậy tỉnh đã đôn đốc các đơn vị thủy điện chủ động ứng phó thiên tai, tăng cường đảm bảo an toàn cho người và công trình thi công xây dựng. Thường xuyên cập nhật, báo cáo thông tin cho các cơ quan chức năng theo quy định.

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 8/2025 ước đạt 6.730,6 tỷ đồng, bằng 97,89% so với tháng trước. Lũy kế ước đạt 45.625 tỷ đồng, bằng 60,83% so với kế hoạch, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2024.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh 8 tháng năm 2025, tăng 7,93% so với cùng kỳ năm trước. Trong các ngành công nghiệp, ngành khai khoáng giảm 0,68%, làm giảm 0,19 điểm phần trăm mức tăng chung; ngành chế biến, chế tạo tăng 14,08%, đóng góp 7,31 điểm phần trăm; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 2,87%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 6,15%, đóng góp 0,11 điểm phần trăm.

2.3. Lĩnh vực thương mại dịch vụ, du lịch

a) Hoạt động thương mại, dịch vụ

Hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong tháng 8 năm 2025 tương đối ổn định, hàng hóa đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất của các doanh nghiệp và tiêu dùng của nhân dân. Giá cả các mặt hàng như lương thực, thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu không có biến động lớn. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 8 năm 2025 ước đạt 6.900 tỷ đồng, tăng 6,1% so với tháng trước. Ước tính 8 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 48.095 tỷ đồng, tăng 6% so cùng kỳ, đạt 57% kế hoạch.

b) Xuất nhập khẩu

Chỉ đạo triển khai các giải pháp nhằm khôi phục và giữ ổn định hoạt động xuất nhập khẩu, thương mại biên giới và hội nhập quốc tế trên địa bàn tỉnh. Tại cửa khẩu quốc tế đường bộ số II Kim Thành, hoạt động thông quan hàng hóa vẫn thuận lợi và không xảy ra hiện tượng ùn tắc tại khu vực cửa khẩu. Mặt hàng xuất khẩu vẫn chủ yếu là các mặt hàng truyền thống: gỗ ván bóc, trái cây tươi, sắn khô, bánh kẹo, giày dép, hàng phốt pho xuất chuyển cửa khẩu...; nhập khẩu: phân bón, rau, củ quả các loại, than cốc, hoá chất, bánh kẹo, máy móc thiết bị, năng lượng điện… Tổng giá trị hàng hóa thông quan các loại hình đều tăng so với tháng trước trong đó giá trị nhập khẩu chiếm tỷ trọng cao các mặt hàng rau củ quả, than cốc tăng mạnh so với tháng trước. Lượng phương tiện thông quan tại cửa khẩu duy trì trung bình khoảng 470 xe/ngày, trong đó: xe xuất khẩu 80 xe/ngày; nhập khẩu 390 xe/ngày.

Tổng giá trị xuất nhập khẩu, mua bán, trao đổi hàng hoá qua các cửa khẩu trong tháng 8/2025 ước đạt 277.5 triệu USD tăng 13,39% so với tháng trước. Lũy kế thực hiện ước đạt 1.925,05 triệu USD, giảm 26,2% so với cùng kỳ năm 2024, đạt 48,13% kế hoạch.

c) Du lịch

Từ đầu năm trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều các Lễ hội truyền thống, các hoạt động văn hoá, thể thao, du lịch tại các khu du lịch trọng điểm; đồng thời tỉnh đẩy mạnh liên kết, hợp tác phát triển du lịch trong nước và quốc tế, ứng dụng nền tảng số trong quảng bá. Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Quốc khánh (02/9/1945 - 02/9/2025), tỉnh đã tổ chức nhiều chương trình văn hóa, thể thao, du lịch quy mô, đặc sắc tại phường Lào Cai, phường Yên Bái và các khu, điểm du lịch Sa Pa, Bắc Hà, Mù Cang Chải…, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch, đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí của nhân dân và du khách.

8 tháng, tổng lượng khách đến Lào Cai ước đạt 8.285.092 lượt, đạt 80,79% kế hoạch. Tổng thu luỹ kế ước đạt 34.607 tỷ đồng, đạt 74,5% kế hoạch.

2.4. Về thu, chi ngân sách, huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển  

a) Về thu, chi ngân sách

Công tác thu ngân sách nhà nước trên địa bàn duy trì ổn định và có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm 2024. Tỉnh Lào Cai không ngừng hỗ trợ tổ chức triển khai hiệu quả các giải pháp tài chính - ngân sách nhằm thực hiện dự toán ngân sách nhà nước theo đúng quy định pháp luật. Đẩy mạnh cơ cấu chi ngân sách nhà nước theo hướng giảm chi thường xuyên để dành nguồn lực cho chi đầu tư phát triển tiến tới phát triển toàn diện.

 Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 8/2025 ước đạt 1.720 tỷ đồng. Lũy kế đến hết tháng 8 ước đạt 12.450 tỷ đồng, bằng 92% dự toán Trung ương giao, bằng 59% dự toán tỉnh giao và bằng 130,5% so với cùng kỳ năm 2024.

Tổng chi ngân sách địa phương trong tháng 8/2025 ước đạt 1.248 tỷ đồng, lũy kế 8 tháng ước đạt 28.788 tỷ đồng, bằng 88,2% dự toán Trung ương giao, bằng 55,9% dự toán tỉnh giao và bằng 132,7% so với cùng kỳ.

b) Hoạt động tín dụng

Thị trường tiền tệ tiếp tục ổn định, các chi nhánh ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân luôn duy trì thực hiện và bảo đảm tốt khả năng chi trả, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế và nhu cầu vay vốn của các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách xã hội.

Tổng nguồn vốn huy động tại địa phương ước đạt 96.500 tỷ đồng, tăng 11,65% so với thời điểm 31/12/2024, chiếm 64,3% tổng nguồn vốn. Các ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân đã chủ động huy động nguồn vốn trên địa bàn, giảm sự phụ thuộc nguồn vốn trụ sở chính. Tổng dư nợ cho vay đến 31/8/2025 ước đạt 126.100 tỷ đồng, tăng 9,16% so với thời điểm ngày 31/12/2024. Nguồn vốn tín dụng đáp ứng tốt nhu cầu người dân, doanh nghiệp. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng/tổng dư nợ trên địa bàn tỉnh ở ngưỡng an toàn dưới 1%.

c) Về giải ngân vốn đầu tư công

Đến nay tỉnh Lào Cai đã giao là 15.119,9 tỷ đồng. Tính đến hết ngày 27/8/2025, đã giải ngân đạt 5.826 tỷ đồng, bằng 38,5% kế hoạch, cao hơn so với cùng kỳ năm 2024. Riêng đối với kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao: Giải ngân đạt 60,9% kế hoạch. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tỉnh Lào Cai đứng thứ 12/34 tỉnh, thành phố có tỷ lệ giải ngân cao của cả nước (trung bình cả nước giải ngân đạt 34,8% kế hoạch).

d) Công tác quản lý đầu tư trong và ngoài nước

Tỉnh Lào Cai không ngừng tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ các nhà đầu tư và doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là về thủ tục đất đai, đầu tư, xây dựng, tín dụng, thuế, hải quan…; kịp thời thu hồi các dự án đã được cấp quyết định chủ trương đầu tư nhưng không triển khai thực hiện. Công tác cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh được đẩy mạnh; công bố công khai việc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp để biết và giám sát việc thực hiện. Lũy kế 8 tháng năm 2025, đã cấp quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư cho 38 dự án, với số vốn đăng ký đầu tư tương đương 11.671,7  tỷ đồng; 67 dự án FDI còn hiệu lực với số vốn đăng ký đạt 1.082,66 triệu USD.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Lào Cai đang triển khai 48 dự án nhà ở thương mại với 10.108 căn nhà riêng lẻ và 259 căn chung cư. Trong 08 tháng đầu năm đang triển khai thi công 03 dự án phát triển nhà ở xã hội với tổng số 3.685 căn, diện tích đất 8,42 ha; hoàn thiện các thủ tục để chuẩn bị khởi công 05 dự án nhà ở xã hội với tổng số khoảng 2.149 căn.

đ) Phát triển doanh nghiệp

Trong tháng 8 đã thực hiện cấp giấy chứng nhận đăng ký mới cho 195 doanh nghiệp và 64 đơn vị trực thuộc, tăng 15,5% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký đạt 1.070,039 tỷ đồng; đăng ký tạm ngừng hoạt động 59 doanh nghiệp, giảm 3,8% so với cùng kỳ; giải thể 34 doanh nghiệp, tăng 25% so với cùng kỳ; hoạt động trở lại 56 doanh nghiệp, tăng 15% so với cùng kỳ.

Lũy kế từ đầu năm đến nay, thực hiện cấp giấy chứng nhận đăng ký mới cho 840 doanh nghiệp và 480 đơn vị trực thuộc, tăng 15% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký đạt 6.864,85 tỷ đồng; đăng ký tạm ngừng hoạt động cho 1.054 doanh nghiệp, tăng 27% so với cùng kỳ; giải thể 197 doanh nghiệp, tăng 35,5% so với cùng kỳ. Hoạt động trở lại 269 doanh nghiệp, tăng 5,4% so với cùng kỳ.

2.5. Phát triển văn hóa - xã hội

a) Lĩnh vực Giáo dục

Chất lượng giáo dục toàn diện được chú trọng nâng cao rõ rệt. Toàn tỉnh có 1.047 cơ sở giáo dục (1.015 trường công lập, 32 trường ngoài công lập), với 1.372 điểm trường lẻ (mầm non 899 điểm trường, tiểu học 473 điểm trường), cơ bản giữ ổn định số trường so với năm học trước. Đến nay, toàn tỉnh có 765 trường mầm non, phổ thông được công nhận đạt chuẩn quốc gia, chiếm 75,1% số trường, trong đó, số trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 là 147 trường, chiếm 14,4 % tổng số trường. Tổ chức tổng kết năm học 2024-2025 và chuẩn bị điều kiện cho năm học mới 2025-2026.

Đối với công tác tổ chức thi tốt nghiệp THPT năm 2025: Toàn tỉnh có 59 điểm thi, 817 phòng thi (trong đó có 02 điểm thi cho thí sinh tự do thi Chương trình 2006 với 22 phòng thi). Số thí sinh đăng ký dự thi: 18.661 thí sinh. Công tác tổ chức coi thi, chấm thi, chấm bài phúc khảo thi tốt nghiệp THPT năm 2025 đảm bảo an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. Toàn tỉnh không có trường hợp cán bộ coi thi, thí sinh vi phạm quy chế thi. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT toàn tỉnh đạt 99,15%, điểm trung bình các môn của các thí sinh tại Lào Cai đạt 5,92 điểm, xếp thứ 26/34 tỉnh, thành.

b) Lĩnh vực văn hoá thông tin, thể dục thể thao

Hoạt động văn hóa: Các hoạt động phục vụ văn hóa cơ sở tiếp tục được triển khai theo kế hoạch, đặc biệt chú trọng các hoạt động tuyên truyền với các nội dung hướng về Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tích cực tham gia các giải thể thao toàn quốc và duy trì tổ chức đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao trong cộng đồng, cải thiện thể lực, tầm vóc con người Lào Cai.

c) Lĩnh vực Y tế

Tiếp tục chỉ đạo các ngành và địa phương triển khai linh hoạt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh gắn với nhiệm vụ năm 2025. Quan tâm thực hiện hiệu quả chương trình hợp tác với các bệnh viện tuyến Trung ương và quốc tế trong đào tạo nhân lực, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, kỹ năng quản lý, vận hành cơ sở khám chữa bệnh. Đẩy mạnh cơ chế tự chủ trong các cơ sở khám chữa bệnh, gắn với nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh cho nhân dân. Duy trì và nâng cao tỷ lệ hài lòng người bệnh ở các đơn vị. Bảo đảm cung ứng thuốc cho công tác khám, chữa bệnh, phòng và ứng phó với dịch bệnh; tăng cường công tác phòng, chống dịch cúm mùa; thường xuyên kiểm tra, giám sát bảo đảm chất lượng thuốc trên địa bàn tỉnh. Trong tháng 8, đã khám, chữa bệnh cho 311.349 lượt người; lũy kế đến thời điểm hiện tại, đã khám, chữa bệnh cho 2.466.041 lượt người; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 106,1%, lũy tích đạt 98,5% Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin tháng 8 đạt 7,9%, lũy kế 8 tháng đạt 65,7%.

d) An sinh xã hội

Trong tháng 8/2025: Đã giải quyết việc làm cho 1.804 lao động; trong đó từ chương trình phát triển kinh tế xã hội: 131 người, vay vốn Quỹ quốc gia giải quyết việc làm 1.103 người; Đưa lao động đi làm việc tại nước ngoài được 48 người, cung ứng lao động tỉnh ngoài được 522 người.

Lũy kế đến tháng 8/2025: Đã giải quyết việc làm cho 22.780/30.000 lao động, đạt 75,93% kế hoạch; trong đó: từ chương trình phát triển kinh tế xã hội 6.158 người, vay vốn Quỹ quốc gia giải quyết việc làm 7.938 người; Đưa lao động đi làm việc tại nước ngoài được 667 người, cung ứng lao động tỉnh ngoài được 8.017 người.

Về chuyển dịch cơ cấu lao động: Tháng 8/2025: Đã chuyển dịch được 1.052 lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Tính đến tháng 8/2025: Đã chuyển dịch được 5.802 lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp (đạt 82,89% kế hoạch); lĩnh vực chuyển dịch chủ yếu gồm: sản xuất công nghiệp, xây dựng, du lịch, kinh doanh, bán hàng…

Tiếp tục quan tâm, giải quyết kịp thời, đúng quy định cho các đối tượng chính sách. 8 tháng đã giải quyết chế độ chính sách cho 10.874  lượt hồ sơ người có công đảm bảo hiệu quả, đúng đối tượng.

2.6. Quốc phòng, an ninh và đối ngoại

a) Quân sự - quốc phòng

Quán triệt và triển khai hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, trực sẵn sàng phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc. Thực hiện tốt chính sách đối với quân đội, hậu phương quân đội và công tác dân vận; củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh toàn diện. Tăng cường giáo dục quốc phòng, an ninh toàn dân; đẩy mạnh huấn luyện, nâng cao chất lượng lực lượng dân quân, tự vệ. Khu vực phòng thủ tỉnh, huyện được xây dựng ngày càng vững chắc. Chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia được giữ vững; đường biên, mốc giới, cửa khẩu được quản lý chặt chẽ; công tác xuất nhập cảnh, quản lý người nước ngoài được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định

b) Công tác bảo đảm an ninh, trật tự

Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn về cơ bản ổn định. Lực lượng công an là nòng cốt đã phối hợp chặt chẽ với các cấp các ngành tích cực, chủ động triển khai kế hoạch đảm bảo an ninh các địa bàn có tiềm ẩn phức tạp về an ninh trật tự, luôn chủ động trong mọi tình huống, không để xảy ra các vụ việc phức tạp. Trong tháng, xảy ra 20 vụ tai nạn giao thông và va chạm giao thông đường bộ, chết 06 người, bị thương 22 người.

c) Hoạt động đối ngoại

Tiếp tục triển khai các nghị quyết, chỉ thị của trung ương, bộ, ngành về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội; các hiệp định thương mại tự do. Hoạt động đối ngoại tiếp tục được đẩy mạnh, đã chủ động triển khai các hoạt động về ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa…

Trong tháng 8/2025, tỉnh đã phối hợp giải quyết thủ tục cho các đoàn ra/đoàn vào, trong đó: Đoàn ra: Tổng cộng có 39 đoàn/92 người, trong đó đoàn đi Trung Quốc là 22 đoàn/73 người (đi công tác: 06 đoàn); đi các nước khác (Lào, Malaysia, Singapore, Cộng hòa Séc, Thuỵ Điển, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ,...) gồm 17 đoàn/19 người (đi công tác: 04 đoàn). Đoàn vào: Tổng cộng có 35 đoàn/225 người, trong đó đoàn Trung Quốc gồm 05 đoàn/26 người; đoàn các nước khác gồm 12 đoàn/69 người; các đoàn PCPNN gồm 18 đoàn/130 người (quốc tịch: Hoa Kỳ, Đức, Singapore, Úc, Anh, Hàn Quốc, Nhật Bản,…). Qua theo dõi, các đoàn ra/vào đều tuân thủ quy định về quản lý đoàn, hoạt động

2.7. Về cải cách thủ tục hành chính

Các hoạt động trong tháng vừa qua tại các Trung tâm phục vụ hành chính công diễn ra thông suốt, ổn định không bị gián đoạn trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương hai cấp được chính thức vận hành. Các Trung tâm hành chính công cấp xã được hỗ trợ triển khai thực hiện sử dụng Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính để tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thủ tục hành chính tại Trung tâm sau sáp nhập nhằm đảm bảo các hoạt động cung cấp và giải quyết dịch vụ công được duy trì ổn định nâng cao chất lượng phục vụ người dân và tổ chức.

Tổng số hồ sơ tiếp nhận tại các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh và cấp xã trong tháng vừa qua là 80.389 hồ sơ, trong đó hồ sơ tiếp nhận trực tiếp 12.819 hồ sơ chiếm 15,95%, hồ sơ tiếp nhận trực tuyến là 67.570 hồ sơ chiếm 84,05%. Tỷ lệ  giải quyết hồ đạt 87,1%.

Đẩy mạnh sử dụng ứng dụng (app) Cổng dịch vụ công của tỉnh trên nền tảng thiết bị thông minh để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp tra cứu, nộp hồ sơ trực tuyến, thanh toán trực tuyến được thuận lợi. 100% tài khoản của công dân khi thực hiện giải quyết thủ tục hành chính đều thực hiện đăng nhập thông qua ứng dụng VNeID của Bộ Công an nhằm xác thực thông tin chính xác, đầy đủ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tổ chức và cá nhân.

2.8. Xây dựng chính quyền

Bám sát chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và tỉnh Lào Cai; triển khai các công việc khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm trên tinh thần "vừa chạy vừa xếp hàng" nhưng thận trọng, chắc chắn, bài bản, không nóng vội, chủ quan; có thứ tự ưu tiên, làm việc nào chắc việc đó, thực hiện đúng các quy trình thủ tục theo quy định, không làm tắt, làm ẩu, làm qua loa đại khái. Đến nay, tỉnh Lào Cai (mới) đã cơ bản hoàn thành việc tinh gọn hệ thống các cơ quan, đơn vị hành chính. Sau hợp nhất, tỉnh Lào Cai có 17 sở, ngành với 114 phòng, chi cục và tương đương. Toàn tỉnh có 175 đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó, 10 đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh. Kịp thời kiện toàn các chức danh lãnh đạo, quản lý và phân công nhiệm vụ rõ ràng, phân cấp, ủy quyền cụ thể trong nội bộ từng cơ quan, đơn vị, giúp điều hành công việc thuận lợi. Căn cứ quy định về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, các cơ quan, đơn vị, địa phương đã chủ động xây dựng quy chế làm việc của đơn vị mình, ban hành, thực hiện kịp thời, đảm bảo theo quy định của pháp luật. Tiếp tục thực hiện minh bạch chính sách đối với đối tượng nghỉ hưu trước tuổi và nghỉ thôi việc. Dự ước hết 31/8/2025, tỉnh giải quyết chính sách nghỉ việc cho trên 2.200 người với tổng kinh phí chi trả cho các đối tượng là trên 2.200 tỷ đồng.

Tải về

 

 

  • Phát huy vai trò nòng cốt của MTTQ Việt Nam tỉnh Lào Cai, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
    (06/03/2026)
  • Phim tài liệu: Lào Cai - Yên Bái: Cùng nhau bước đi, chạm tay đến ước mơ
    (19/04/2025)
  • PS ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI LÀO CAI 2024
    (25/06/2024)
  • GIỚI THIỆU LÀO CAI
    (20/07/2023)
  • XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI
    (20/07/2023)
1 2 3 4 
Đăng nhập
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1