1. Kết quả các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2025
Tổng số 25 chỉ tiêu tổng hợp theo Nghị quyết 08/NQ-HĐND ngày 08/7/2025; Nghị quyết 17/NQ-HĐND ngày 31/7/2025 của HĐND tỉnh và Quyết định 297/QĐ-UBND ngày 09/7/2025, Quyết định số 725/QĐ-UBND ngày 07/8/2025 của UBND tỉnh, kết quả như sau:
a) Các chỉ tiêu vượt kế hoạch, gồm 03 chỉ tiêu:
(1) Số lượt khách du lịch đạt 10.512.000 lượt khách, vượt 2,5% kế hoạch. Doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 46.593 tỷ đồng, vượt 0,3% kế hoạch.
(2) Thu ngân sách nhà nước đạt 21.689 tỷ đồng, vượt 3,3% kế hoạch.
(3) Số lao động được tạo việc làm mới đạt 30.435 lao động, vượt 1,5% kế hoạch.
b) Nhóm chỉ tiêu đạt kế hoạch, gồm 17 chỉ tiêu:
(1) Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn: Nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 15,87%; Công nghiệp - xây dựng đạt 37,25%; Dịch vụ đạt 39,34%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 7,55%.
(2) Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người đạt 85 triệu đồng.
(3) Chỉ số sản xuất công nghiệp đạt 9,6%. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 75.000 tỷ đồng.
(4) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 85.000 tỷ đồng.
(5) Tổng vốn đầu tư phát triển đạt 86.000 tỷ đồng.
(6) Tỷ lệ đô thị hóa đạt 31,5%.
(7) Tuổi thọ trung bình người dân đạt 71,7 tuổi.
(8) Chỉ số hạnh phúc của người dân đạt 68,3%.
(9) Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%.
(10) Giảm tỷ lệ hộ nghèo so với năm trước đạt 2,68%.
(11) Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 96,5%.
(12) Số bác sỹ/mười nghìn dân đạt 12,8 bác sỹ.
(13) Tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt 93%.
(14) Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh đạt 98%.
(15) Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom và xử lý ở khu vực đô thị đạt 95,3%
(16) Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom và xử lý ở khu vực nông thôn đạt 75,5%.
(17) Tỷ lệ che phủ rừng đạt 61,5%.
c) Nhóm chỉ tiêu không đạt kế hoạch, gồm 05 chỉ tiêu:
(1) Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (giá so sánh 2010) đạt 8,14% (kế hoạch là 8,5%).
(2) Số xã đạt chuẩn nông thôn mới là 0 xã (kế hoạch là 04 xã).
(3) Tổng giá trị xuất nhập khẩu, mua bán, trao đổi hàng hoá qua các cửa khẩu đạt 3.190 triệu USD, đạt 79,8% kế hoạch.
(4) Số lượng nhà ở xã hội đạt 1.580/2.286 căn hộ, đạt 69,1% so kế hoạch.
(5) Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội đạt 4,8% (kế hoạch là 7,48%).
(Có Phụ lục chi tiết kèm theo)
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và phát triển nông thôn
Năm 2025, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh còn gặp khó khăn do thời tiết tiếp tục diễn biến cực đoan ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, hạn hán, thiếu nước, mưa lũ; giá vật tư nông nghiệp, giá thức ăn chăn nuôi tăng cao, nguyên liệu đầu vào và cước vận chuyển tăng, trong khi giá bán sản phẩm thấp và không ổn định. Ảnh hưởng của bão, gây ảnh hưởng, thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, một số diện tích bị mất trắng, khó có khả năng phục hồi, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng và đời sống của nhân dân,... Tuy nhiên, tranh thủ thời tiết thuận lợi và sự quyết tâm, đoàn kết, chung sức chung lòng của toàn thể nhân dân, sự vào cuộc của các cấp chính quyền phát triển sản xuất nông nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá. Tốc độ tăng trưởng khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản dự ước tăng 5,35% thấp hơn 0,19 điểm % so với kế hoạch (5,54%), đóng góp 1,01 điểm % vào tăng trưởng chung (kế hoạch dự kiến đóng góp 0,91 điểm %). Cụ thể kết quả một số lĩnh vực như sau:
a) Trồng trọt
Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm 2025 của tỉnh đạt 645.270 tấn, đạt 99,8% kế hoạch và tăng 3,9% so với năm 2024 (trong đó lúa đạt 402.201 tấn, ngô đạt 243.069 tấn). Mặc dù diện tích gieo trồng có biến động nhẹ, năng suất bình quân cả lúa (54,3 tạ/ha) và ngô (40,83 tạ/ha) đều tăng đáng kể so với cùng kỳ. Kết quả này đạt được nhờ việc áp dụng các giống cây trồng tiến bộ kỹ thuật, phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu địa phương. Sự gia tăng cả về năng suất và sản lượng đã góp phần tích cực vào việc đảm bảo vững chắc an ninh lương thực của tỉnh liên tục trong nhiều năm.
Các địa phương đẩy mạnh chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp an sinh sang phát triển nông nghiệp hàng hóa, hình thành các vùng sản xuất tập trung cho các cây trồng chủ lực. Nhiều loại cây trồng đạt và vượt kế hoạch đề ra cho năm 2025: chè ước đạt 15.476 ha (vượt 11,2% so cùng kỳ về sản lượng), cây dược liệu đạt 2.136 ha (đạt 169,3% kế hoạch), dứa đạt 2.616 ha và chuối hàng hóa đạt 2.865 ha. Tỉnh cũng tập trung phát triển các sản phẩm tiềm năng như: dâu tằm, cây ăn quả ôn đới và cây ăn quả có múi, đồng thời chuyển đổi diện tích cây trồng kém hiệu quả sang các loại cây có giá trị kinh tế cao hơn. Công tác liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm và quản lý chất lượng nông sản (theo tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ) được tăng cường, đáp ứng yêu cầu sản xuất trong tình hình mới.
b) Chăn nuôi, Thú y - Thủy sản
Tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối ổn định. Năm 2025, tổng đàn gia súc đạt 1.507.000 con, bằng 96,8% kế hoạch năm và bằng 101% so với cùng kỳ năm 2024; tổng đàn gia cầm 13.100 nghìn con, đạt 100,23% kế hoạch và bằng 101,4% so với cùng kỳ năm 2024; sản lượng thịt hơi 160.000 tấn, đạt 100,6% kế hoạch năm.
Thuỷ sản phát triển cả về diện tích mặt nước, năng suất, sản lượng, dần khẳng định vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp tỉnh. Sản lượng thuỷ sản cả năm đạt 28.035 tấn, bằng 100,1% so kế hoạch và 112,3% so cùng kỳ năm 2024.
c) Lâm nghiệp
Kinh tế lâm nghiệp của tỉnh đang chuyển dịch tích cực, tập trung vận động người dân phát triển các loại cây rừng có giá trị kinh tế cao như quế, trẩu, bồ đề, keo, bạch đàn, đồng thời khai thác lâm sản phụ (măng, cánh kiến trắng, dược liệu dưới tán rừng) nhằm tăng thu nhập. Hoạt động trồng rừng mới và bảo vệ rừng hiện có được đẩy mạnh. Năm 2025, tỉnh đạt 14.211 ha rừng trồng mới tập trung, vượt 321% kế hoạch, và khoanh nuôi tái sinh 8.200 ha. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 61,5%, cao hơn mức trung bình cả nước. Nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng ước đạt 250 tỷ đồng, và tỉnh đã phê duyệt 05 đề án du lịch sinh thái để thu hút đầu tư. Công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng được tăng cường, đảm bảo sẵn sàng ứng phó, với chỉ 04 vụ cháy rừng nhỏ lẻ xảy ra từ đầu năm đến nay.
d) Chương trình xây dựng nông thôn mới và phát triển nông thôn
- Chương trình xây dựng nông thôn mới được các cấp chính quyền quan tâm triển khai. Đến tháng 6/2025, toàn tỉnh có 07 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới và 05 xã đạt chuẩn, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới lên 66,2%. Sau sáp nhập, lũy kế toàn tỉnh có 37/89 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 41,5%, trong đó có 01 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao. Bình quân mỗi xã đạt 12,82 tiêu chí nông thôn mới, vẫn còn 28 xã đạt dưới 10 tiêu chí. Toàn tỉnh cũng có 387 thôn, bản được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới và 533 thôn, bản đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.
- Phát triển nông thôn: Toàn tỉnh hiện có 816 hợp tác xã nông nghiệp (572 đang hoạt động) và 2.801 tổ hợp tác. Có 120 trang trại đạt tiêu chí, chủ yếu là trang trại chăn nuôi. Tỉnh đã phát triển được 605 sản phẩm OCOP (chủ yếu là 3 sao và 4 sao), trong đó có 02 sản phẩm đạt chuẩn 5 sao. Công tác bố trí, sắp xếp dân cư được triển khai tích cực, ưu tiên giải pháp sắp xếp xen ghép do nguồn lực hạn chế, đồng thời có kế hoạch cho khoảng 41 dự án sắp xếp dân cư tập trung giai đoạn 2024-2030. Công tác đầu tư và sửa chữa các công trình thủy lợi được chú trọng, ưu tiên các công trình trọng điểm và cấp thiết, đảm bảo phục vụ kịp thời vụ sản xuất nông nghiệp. Tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống tập trung đạt 93%; tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh đạt 98%.
đ) Công tác xúc tiến đầu tư, chế biến - thương mại, chuyển đổi số trong nông nghiệp được đẩy mạnh triển khai thực hiện để kết nối tiêu thụ nông sản của tỉnh
Công tác xúc tiến đầu tư, chế biến thương mại và chuyển đổi số trong nông nghiệp được đẩy mạnh. Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý và xúc tiến tiêu thụ sản phẩm qua các hệ thống phần mềm, nền tảng số. Cụ thể, 111 doanh nghiệp tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử cho 352 dòng sản phẩm, đảm bảo minh bạch thông tin và xuất xứ rõ ràng; 262 tổ chức, cá nhân đưa 504 sản phẩm lên Hệ thống hỗ trợ xúc tiến thương mại, nâng cao sức cạnh tranh và lợi thế sản phẩm; ngoài ra có 159 chuỗi sản phẩm nông sản an toàn đã được cập nhật thông tin trên hệ thống quản lý chuỗi cung ứng, hỗ trợ hiệu quả cho người sản xuất, cung cấp và người tiêu dùng.
e) Phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn
Tình hình thời tiết và thiên tai trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp, cực đoan, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Trong năm đã xảy ra 25 đợt thiên tai làm 17 người chết và mất tích, 20 người bị thương, cùng nhiều thiệt hại về nhà ở, diện tích lúa, ngô, hoa màu và gia súc, gia cầm. Nhiều công trình hạ tầng như trường học, trạm y tế, và hệ thống giao thông bị hư hỏng, sạt lở nghiêm trọng. Tổng giá trị thiệt hại khoảng 2.820 tỷ đồng. Riêng ảnh hưởng hoàn lưu cơn bão số 10 (Bualoi) đã gây ra thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng: 10 người chết và mất tích, 14 người bị thương, 12.326 ngôi nhà bị ảnh hưởng. Hàng nghìn hecta cây trồng, hàng trăm ngàn con gia cầm và nhiều cơ sở hạ tầng, tài sản của nhân dân bị hư hỏng nặng, ước thiệt hại ban đầu khoảng 2.750 tỷ đồng.
2. Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản
a) Công nghiệp
Hoạt động phát triển công nghiệp và năng lượng của tỉnh Lào Cai ghi nhận những chuyển biến tích cực. Tỉnh có 07 khu công nghiệp (KCN) và 21 cụm công nghiệp (CCN) đang hoạt động, với mục tiêu mở rộng lên 15 KCN và 46 CCN vào năm 2030, tập trung vào các sản phẩm chủ lực như: quặng Apatit, tinh quặng đồng và phân DAP. Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy và UBND tỉnh, nhiều khó khăn, vướng mắc đã được tháo gỡ, đồng thời cấp chủ trương đầu tư cho các dự án lớn như khai thác mỏ đất hiếm Bến Đền và mỏ đồng Tả Phời mở rộng. Nhờ vậy, giá trị sản xuất công nghiệp lũy kế ước tính tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2024. Về năng lượng, tỉnh có 105 dự án thủy điện đã hoàn thành phát điện và nhiều dự án đang được triển khai. Hệ thống điện đảm bảo an toàn, ổn định; đến nay 100% các xã, phường, thị trấn đã có điện lưới quốc gia, với tỷ lệ số hộ sử dụng điện đạt 98,28%. Đến hết năm 2025, giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh đạt 75.000 tỷ đồng, vượt 2,9% kế hoạch và tăng 15% so với cùng kỳ năm 2024.
b) Tiểu thủ công nghiệp
Lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp được duy trì, tập trung vào chế biến lâm sản và nông sản thực phẩm có giá trị gia tăng cao, sản phẩm cuối cùng được xuất khẩu. Sự hợp nhất tỉnh đã tạo cơ hội xây dựng chuỗi giá trị du lịch - thủ công mỹ nghệ khép kín. Du khách cao cấp tại Sa Pa là thị trường lý tưởng cho các sản phẩm OCOP đặc sắc. Các làng nghề dệt thổ cẩm Tả Phìn có thể kết hợp nguyên liệu địa phương để tạo ra hệ sinh thái sản phẩm lưu niệm độc đáo, chất lượng cao.
3. Huy động nguồn lực đầu tư phát triển; hoạt động xây dựng cơ bản
Tổng vốn đầu tư phát triển đến hết năm 2025 đạt 86.000 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch và tăng 4,8% so với cùng kỳ. Công tác lập và quản lý quy hoạch được chú trọng nhằm tạo sự thống nhất trong điều hành và huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Tỉnh đã thực hiện rà soát, bổ sung các quy hoạch xây dựng nông thôn mới, điều chỉnh mở rộng quy hoạch chung các khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghiệp và các đô thị trọng điểm. Nhiều công trình trọng điểm có sức lan tỏa vùng đang được triển khai như dự án đường kết nối các tỉnh Tây Bắc với cao tốc Nội Bài - Lào Cai, xây dựng Cảng hàng không Sa Pa, cầu biên giới Bản Vược, và nâng cấp các tuyến quốc lộ. Tỉnh cũng phối hợp với các bộ, ngành Trung ương triển khai các dự án hạ tầng giao thông mang tính liên vùng như tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn và mở rộng đoạn cao tốc Yên Bái - Lào Cai.
Về giải ngân vốn đầu tư công: Đến nay tỉnh Lào Cai đã giao là 15.056 tỷ đồng. Tính đến hết ngày 31/12/2025, đã giải ngân đạt 12.378 tỷ đồng, bằng 82,2% kế hoạch, cao hơn so với cùng kỳ năm 2024 (cùng kỳ năm 2024 tỉnh Yên Bái đạt 78,1%, tỉnh Lào Cai cũ đạt 80,2%); ứớc thực hiện giải ngân đến hết ngày 31/01/2026 đạt 14.295 tỷ đồng, bằng 95% kế hoạch. Riêng vốn Thủ tướng Chính phủ giao đạt 96% đứng thứ 06/34 cả nước; uớc thực hiện giải ngân đến hết ngày 31/01/2026 đạt 100% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Kế hoạch đầu tư công năm 2025 đã được triển khai bảo đảm nguyên tắc, tiêu chí, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm vào các ngành, lĩnh vực then chốt, các dự án trọng điểm, dự án quy mô lớn, kết nối liên vùng, các dự án quan trọng, cấp thiết của địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, tác động lan tỏa, tạo không gian phát triển mới và tạo thêm năng lực mới, thúc đẩy phát triển của ngành, lĩnh vực, địa phương; các dự án phòng chống thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống của người dân được đầu tư, khắc phục kịp thời. Với phương châm xác định lấy vốn đầu tư công là vốn mồi, đóng vai trò dẫn dắt, thu hút, huy động thêm các nguồn lực khác để đầu tư, trong đó ưu tiên thu hút các nguồn lực của doanh nghiệp và nhân dân để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng trên cơ sở phù hợp với nhu cầu và tình hình thực tiễn tại địa phương, đồng thời tạo công ăn, việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Công tác chỉ đạo, điều hành được thực hiện quyết liệt, thường xuyên, liên tục; tập trung giải quyết các điểm nghẽn, vướng mắc trong giải ngân vốn đầu tư công. Qua đó, kết quả giải ngân vốn đầu tư công của tỉnh thường trong nhóm các tỉnh giải ngân cao. Hệ thống kết cấu hạ tầng của tỉnh được đầu tư cơ bản đồng bộ, một số công trình lớn được đưa vào khai thác sử dụng phát huy hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.
4. Hoạt động thương mại, dịch vụ
Hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục đà tăng trưởng. Từ đầu năm, với chuỗi ngày nghỉ Tết, nghỉ Lễ dài, chuỗi các sự kiện được tổ chức thu hút đông đảo du khách đến với Lào Cai; các hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ lưu trú, ăn uống, hoạt động kinh doanh vận tải, du lịch, cửa khẩu quốc tế Lào Cai tiếp tục có nhiều khởi sắc, mở ra cơ hội thuận lợi trong xuất nhập khẩu hàng hóa cho người dân và doanh nghiệp.
a) Hoạt động thương mại
Thị trường trên địa bàn tỉnh Lào Cai tương đối ổn định, nguồn cung hàng hóa phong phú, đa dạng, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, không có hiện tượng tăng giá đột biến. Các địa phương và doanh nghiệp đã tích cực triển khai các chính sách kích cầu, tăng cường quảng bá và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch thông qua nhiều chuỗi sự kiện văn hóa, du lịch hấp dẫn.
Hoạt động sản xuất kinh doanh tập trung dự trữ, khai thác nguồn hàng và triển khai các chương trình khuyến mãi. Sự kiện nổi bật là khai trương Trung tâm thương mại GO! Yên Bái vào tháng 9/2025, cung cấp hơn 40.000 sản phẩm thiết yếu, góp phần kích thích tiêu dùng và tạo việc làm cho lao động địa phương. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 đạt 85.000 tỷ đồng, tăng 17,1% so cùng kỳ. Nhiều hoạt động xúc tiến thương mại, sự kiện văn hóa và du lịch đã được tổ chức (như lễ hội ruộng bậc thang Mù Cang Chải, Hội chợ Việt - Trung, chợ phiên Bắc Hà) nhằm tạo cơ hội giao lưu, tìm kiếm đối tác và thúc đẩy phát triển du lịch, thương mại, xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh.
b) Xuất nhập khẩu
Nỗ lực ổn định hoạt động xuất nhập khẩu trong bối cảnh kinh tế phức tạp. Giá trị nhập khẩu tăng mạnh (trên 20%) với các mặt hàng như nông sản, phân bón, và thiết bị phục vụ sản xuất. Giá trị xuất khẩu tăng ở một số mặt hàng như: phốt pho, sản phẩm lâm sản và nông sản chủ lực Việt Nam được thị trường Trung Quốc ưa chuộng. Tại cửa khẩu quốc tế đường bộ số II Kim Thành, hoạt động thông quan hàng hóa vẫn thuận lợi và không xảy ra hiện tượng ùn tắc tại khu vực cửa khẩu. Mặt hàng xuất khẩu vẫn chủ yếu là các mặt hàng truyền thống: gỗ ván bóc, trái cây tươi, sắn khô, bánh kẹo, giày dép, hàng phốt pho xuất chuyển cửa khẩu,...; nhập khẩu: phân bón; rau, củ quả các loại; than cốc; hoá chất; bánh kẹo; máy móc thiết bị, năng lượng điện,… Lượng phương tiện thông quan tại cửa khẩu duy trì trung bình khoảng 570 xe/ngày, trong đó: xe xuất khẩu 90 xe/ngày; nhập khẩu 480 xe/ngày. Tổng giá trị xuất nhập khẩu, mua bán, trao đổi hàng hoá qua các cửa khẩu đạt 3.190 triệu USD, giảm 16,12% so với cùng kỳ năm 2024, đạt 79,7% so kế hoạch.
c) Công tác quản lý thị trường
Tình hình buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa không còn diễn biến phức tạp, phát sinh điểm nóng và các vụ việc nổi cộm, các vụ việc vi phạm chủ yếu có quy mô nhỏ lẻ. Lực lượng quản lý thị trường đã phối hợp với các lực lượng chức năng và chính quyền địa phương thường xuyên phối hợp tuần tra, kiểm soát, trao đổi thông tin nên đã kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Tổng số vụ kiểm tra 968 vụ; Tổng số vụ xử lý: 844 vụ; Số hành vi xử lý: 869 hành vi. Tổng số tiền phạt vi phạm hành chính: 6.350.128.258 đồng. Thu lợi bất hợp pháp: 891.258 đồng; Bán hàng tịch thu: 520.359.000 đồng. Thu nộp NSNN: 6.870.487.258 đồng. Trị giá hàng buộc tiêu huỷ 5.480.553.500 đồng. Tổng giá trị thực hiện là 12.351.040.758 đồng.
d) Du lịch
Khu du lịch Quốc gia Sa Pa tiếp tục thu hút nhiều dự án lớn về hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ. Các khu du lịch như: Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Nghĩa Lộ, Bắc Hà, Y Tý, Nghĩa Đô… được quan tâm đầu tư bắt đầu tăng sức hút và tính cạnh tranh của ngành du lịch địa phương. Do vậy, du lịch Lào Cai tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ (lượng khách du lịch trong dịp Tết Nguyên Đán và kỳ nghỉ lễ 30/4-1/5, 2/9 của Lào Cai đều xếp top đầu cả nước). Nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng văn hóa bản sắc dân tộc được đưa vào khai thác (Như Lễ hội Đền Thượng; Lễ hội xuống đồng tại xã Cam Đường, xã Tả Phời; Lễ hội Gầu Tào tại xã Hoàng Liên và Lễ hội xuống đồng, xã Tả Van; Festival cao Nguyên trắng Bắc Hà với chủ đề “Nghiêng say mùa Xuân”- H. Bắc Hà); Lễ hội Đền Đông Cuông (xã Đông Cuông), Lễ hội Đền Đại Cại (xã Tân Lĩnh), Lễ hội Ruộng bậc thang Mù Cang Chải, các hoạt động sự kiện tiêu biểu được tổ chức như: Hội chợ Du lịch Quốc tế Lào Cai với chủ đề “Du lịch Lào Cai - Kết nối khát vọng xanh”, Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2025, Lễ hội mùa Xuân 2025, Hội thi "Lung linh vòng xòe 2025", Ngày hội Văn hóa dân gian "Sắc vàng bên dòng Nặm Luông" lần thứ 2 năm 2025,… đồng thời phát triển mạnh các sản phẩm du lịch cộng đồng, trải nghiệm thiên nhiên, nông nghiệp gắn với bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số,... Công tác quản lý nhà nước về du lịch được các địa phương quan tâm, chất lượng nguồn nhân lực du lịch được nâng cao; chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực du lịch được đẩy mạnh. Số lượt khách du lịch ước cả năm đạt 10.512 nghìn lượt khách (trong khách quốc tế trên 1,5 triệu lượt khách) bằng 102,5% kế hoạch. Tổng thu từ khách du lịch ước cả năm ước đạt 46.593 tỷ đồng bằng 100,3 % kế hoạch.
e) Dịch vụ khác
- Dịch vụ vận tải: Dịch vụ vận tải tại tỉnh Lào Cai tiếp tục duy trì đà phát triển ổn định và đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Hoạt động vận tải chủ yếu dựa vào đường bộ, chiếm gần 90% khối lượng hàng hóa và hành khách, với hơn 1.800 phương tiện hoạt động ổn định trên các tuyến đường trọng điểm, đặc biệt là tuyến cao tốc Lào Cai - Hà Nội. Tỉnh Lào Cai cũng chú trọng phát triển hạ tầng logistics và các phương thức vận tải khác để tạo đột phá, tận dụng vị thế là trung tâm trung chuyển hàng hóa quan trọng giữa Việt Nam, Trung Quốc và các nước ASEAN. Các dự án giao thông trọng điểm, bao gồm việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng Sân bay Sa Pa, được kỳ vọng sẽ hiện đại hóa hạ tầng và mở ra cơ hội phát triển mới cho ngành vận tải trong tương lai gần. Nhìn chung, năm 2025 chứng kiến sự phát triển đồng bộ về hạ tầng và phương tiện, tuy nhiên vẫn còn tồn tại thách thức trong việc cân bằng các phương thức vận tải và nâng cao hiệu quả hoạt động logistics.
- Dịch vụ bưu chính, viễn thông: Tổng số doanh nghiệp bưu chính trên địa bàn tỉnh có 14 doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính, tổng số điểm phục vụ Bưu chính: 485 điểm (trong đó: 197 Bưu cục; 274 điểm Bưu điện văn hoá xã; 14 đại lý và điểm phục vụ hình thức khác). Hạ tầng viễn thông: được đầu tư đồng bộ từ cấp tỉnh, đến cấp huyện, xã: toàn tỉnh hiện có 4.607 trạm thu phát sóng thông tin di động, trong đó có 1.546 trạm 3G, 2.955 trạm 4G và 106 trạm 5G (tại khu công nghiệp, thương mại, du lịch và khu vực chính trị - văn hóa tại các xã, phường trọng điểm), từng bước mở rộng tại các khu vực dân cư tập trung. Hiện toàn tỉnh còn 50 thôn chưa có Internet cáp quang; 04 thôn trắng sóng di động; 65 thôn lõm sóng. 100% cơ quan nhà nước cấp tỉnh, 99 xã (100%) kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng. 100% cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện có mạng LAN và kết nối Internet. 100% cán bộ, công chức cấp tỉnh, cấp xã được trang bị máy tính phục vụ công việc.
5. Tài chính, tín dụng, chỉ số giá tiêu dùng
a) Hoạt động thu, chi ngân sách
Tiến độ thu ngân sách nhà nước có nhiều khởi sắc, mặc dù còn nhiều khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu công tác thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ổn định, các cấp, các ngành đã triển khai các giải pháp siết chặt kỷ luật tài chính - ngân sách, chấp hành nghiêm dự toán ngân sách nhà nước theo đúng quy định của pháp luật. Thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý thu, chi ngân sách nhà nước, chống thất thu, nợ đọng thuế, mở rộng, nuôi dưỡng các nguồn thu. Đẩy mạnh cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng giảm chi thường xuyên để dành nguồn lực cho chi đầu tư phát triển nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Thực hiện quyết liệt, hiệu quả các giải pháp chống thất thu, chuyển giá, gian lận thương mại, thất thu thuế, quản lý chặt chẽ hoàn thuế; đôn đốc thu hồi, giảm tỷ lệ nợ đọng thuế, bảo đảm các nhiệm vụ chi trên địa bàn. Thu NSNN trên địa bàn cả năm đạt 21.689 tỷ đồng, bằng 103% dự toán giao. Tổng chi ngân sách địa phương năm 2025 đạt 41.885 tỷ đồng.
b) Hoạt động tín dụng
Trên địa bàn tỉnh có 31 ngân hàng thương mại, 01 chi nhánh ngân hàng phát triển, 01 chi nhánh ngân hàng chính sách xã hội, 18 quỹ tín dụng nhân dân, 20 chi nhánh cấp II của hệ thống ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, 135 phòng giao dịch, 4.379 tổ tiết kiệm vay vốn của ngân hàng chính sách xã hội, ngân hàng nông nghiệp; 193 ATM và 1359 thiết bị chấp nhận thẻ POS; số lượng điểm chấp nhận thanh toán quét mã QR được chú trọng mở rộng; 07 điểm giao dịch lưu động bằng ô tô chuyên dụng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn. Mạng lưới ngân hàng trên địa bàn tỉnh bảo đảm tốt về cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ người dân, doanh nghiệp. Tăng trưởng tín dụng đạt kết quả tốt, góp phần tích cực hỗ trợ doanh nghiệp và phục hồi nền kinh tế. Các ngân hàng, tổ chức tín dụng đã bám sát chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt nam và thực hiện nghiêm quy định về lãi suất huy động và cho vay hỗ trợ khách hàng, các mức lãi suất trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Các chi nhánh ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân đã chủ động huy động nguồn vốn trên địa bàn, giảm sự phụ thuộc nguồn vốn trụ sở chính. Nguồn vốn tín dụng đáp ứng tốt nhu cầu người dân, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Đến hết năm 2025, nguồn vốn huy động tại địa bàn đạt 99.000 tỷ đồng, tăng 14,5% so với 31/12/2024; dư nợ tín dụng đạt 127.000 tỷ đồng, tăng 12,18% so với 31/12/2024. Các chi nhánh ngân hàng và quỹ tín dụng nhân dân thường xuyên rà soát, đánh giá, phận loại khách hàng, đồng thời tiếp tục đầy mạnh các biện pháp tích cực để thu hồi và xử lý nợ xấu, kiểm soát nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng/tổng dư nợ dưới 1%.
6. Thu hút đầu tư, phát triển các thành phần kinh tế
a) Thu hút dự án đầu tư
Tỉnh đã quan tâm chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức phổ biển, quán triệt và nghiêm túc triển khai thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW. Công tác thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh tiếp tục được quan tâm, triển khai nhiều hoạt động để thu hút, xúc tiến đầu tư. Đẩy mạnh rà soát, hoàn thiện thể chế pháp luật và tập trung quan tâm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; các hoạt động quảng bá hình ảnh môi trường đầu tư qua nhiều kênh khác nhau, như: phối hợp với Tạp chí diễn đàn doanh nghiệp thực hiện chương trình tuyên truyền “Lào Cai điểm đến đầu tư”; thiết kế và in ấn tài liệu “Lào Cai lợi thế và động lực phát triển” phục vụ cho công tác xúc tiến trong và ngoài nước bằng các ngôn ngữ Việt, Anh, Hàn, Trung, Nhật... đặc biệt, Đoàn công tác của tỉnh đã nghiên cứu, khảo sát về hợp tác kinh tế qua biên giới và mô hình thông quan “kiểm tra một lần dừng”, tại khu tự trị Tân Cương và tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc).
- Về thu hút FDI: Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 67 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư/Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư/Giấy chứng nhận đầu tư đang triển khai hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 1,086 tỷ USD, tương đương khoảng 27.167 tỷ đồng, (không có dự án cấp mới).
- Về dự án đầu tư trong nước: Có 52 dự án đã được quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, với tổng vốn đăng ký đầu tư là 16.752.424,5 triệu đồng và 7,7 tỷ USD.
Đến nay, trên địa bàn tỉnh Lào Cai hiện có 1.423 dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đầu tư tương đương khoảng 269.921,5 và 411,4 triệu USD.
b) Phát triển các thành phần kinh tế
- Kinh tế tư nhân: Các doanh nghiệp dần ổn định hoạt động trở lại, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đến hết ngày 31/12/2025, có 12.630 doanh nghiệp được thành lập, với tổng vốn đăng ký trên 168.000 tỷ đồng (trong đó có khoảng 5.300 doanh nghiệp ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh; 60 doanh nghiệp FDI), chia theo loại hình doanh nghiệp: 9.268 công ty tách nhiệm hữu hạn; 2.605 công ty cổ phần; 743 doanh nghiệp tư nhân; 14 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Trong năm thành lập mới 1.440 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký hoạt động là 10.050 tỷ đồng, chia theo loại hình doanh nghiệp: 1.127 công ty tách nhiệm hữu hạn; 263 công ty cổ phần; 10 doanh nghiệp tư nhân; năm 2025 có khoảng 365 doanh nghiệp giải thể.
- Kinh tế tập thể: Năm 2025, khu vực kinh tế tư nhân, hợp tác xã tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh (số lượng hợp tác xã, doanh thu, lợi nhuận, thu nhập của lao động đều tăng hơn năm trước). Thành lập mới 139 hợp tác xã, bằng 116% kế hoạch; thành lập mới 405 tổ hợp tác, bằng 100% kế hoạch. Ước đến hết năm 2025, toàn tỉnh có: 3.000 tổ hợp tác (giảm 64,6% so với cùng kỳ). Mặc dù có đóng góp quan trọng vào GRDP nhưng tốc độ tăng trưởng của khu vực hợp tác xã còn thấp; vai trò lớn nhất của khu vực hợp tác xã là đóng góp gián tiếp thông qua tác động tới kinh tế thành viên (chủ yếu khu vực kinh tế cá thể, hộ gia đình).
- Kinh tế nhà nước: Hiện nay, Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai là cơ quan đại diện chủ sở hữu của 14 doanh nghiệp nhà nước; trong đó: 02 lâm trường đang ngừng hoạt động được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt sắp xếp theo phương án giải thể, chưa thực hiện chuyển đổi sang Công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; 09 Công ty TNHH MTV 100% vốn nhà nước; 03 Công ty cổ phần có vốn nhà nước. Theo kế hoạch giai đoạn 2022-2025: (1) Duy trì Công ty TNHH một thành viên Xổ số kiến thiết tỉnh Lào Cai, Công ty TNHH Nhà nước MTV Xổ số kiến thiết Yên Bái (Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ); (2) Giữ nguyên phần vốn nhà nước của Công ty Cổ phần Cấp nước tỉnh Lào Cai, Công ty cổ phần Cấp nước và Xây dựng Yên Bái, Công ty Cổ phần Môi trường Đô thị tỉnh Lào Cai; (3) Thực hiện rà soát, xây dựng phương án sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bảo Yên và Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Văn Bàn; đề xuất sáp nhập 04 Công ty TNHH MTV lâm nghiệp: Việt Hưng, Thác Bà, Ngòi Lao, Yên Bình thành 01 công ty. Sau khi hoàn thành công tác sáp nhập, ổn định tổ chức và hoạt động sẽ tiếp tục xây dựng phương án sắp xếp chuyển thành Công ty cổ phần hoặc Công ty TNHH hai thành viên trở lên đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế và quy định tại Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 và Nghị định số 04/2024/NĐ-CP ngày 12/01/2024.
7. Giáo dục đào tạo
Quy mô mạng lưới trường, lớp, học sinh toàn tỉnh sau sáp nhập có 1.047 cơ sở giáo dục, gồm: Giáo dục mầm non: toàn tỉnh có 370 trường (343 trường công lập, 27 trường ngoài công lập); với tổng số 4.306 nhóm, lớp; 109.253 trẻ ra lớp. Giáo dục tiểu học: toàn tỉnh 221 trường tiểu học độc lập và 181 trường TH&THCS; với 6.045 lớp, 168.932 học sinh. Giáo dục trung học cơ sở: toàn tỉnh có 363 trường có cấp THCS, chia ra: 181 trường TH&THCS, 182 trường THCS; với tổng số 3.520 lớp, 130.518 học sinh. Giáo dục trung học phổ thông: 68 trường (66 trường công lập, 02 trường ngoài công lập), chia ra 14 trường THCS-THPT, 52 trường THPT, 02 trường TH-THCS-THPT; với tổng số 1.188 lớp, 49.955 học sinh. Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên: 24 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên. Giáo dục Đại học, Giáo dục chuyên nghiệp: toàn tỉnh hiện có 03 cơ sở giáo dục chuyên nghiệp, đại học, gồm 01 phân hiệu trường Đại học Thái Nguyên và 02 trường Cao đẳng (Cao đẳng nghề Yên Bái và Cao đẳng Lào Cai).
Với quy mô 15.315 nhóm, lớp, 469.158 trẻ/học sinh/học viên. Chất lượng giáo dục toàn diện được chú trọng nâng cao rõ rệt. Đến nay toàn tỉnh có 765 trường mầm non, phổ thông được công nhận đạt chuẩn quốc gia, chiếm 75,1% số trường; trong đó, số trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 là 147 trường, chiếm 14,4% tổng số trường. Quy mô, mạng lưới trường lớp tiếp tục được rà soát, sắp xếp, cơ bản phù hợp với phân bố dân cư và địa hình của tỉnh; đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú ngày càng hoàn thiện, trở thành hệ thống trụ cột của sự nghiệp phát triển giáo dục vùng cao, vùng dân tộc thiểu số.
Chất lượng giáo dục toàn diện tiếp tục có bước tiến bộ vững chắc, dần được khẳng định và rõ nét cả ở vùng thấp và vùng cao. Giáo dục mầm non có chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ cả ở công lập và tư thục được thực hiện tốt. Giáo dục Tiểu học có nhiều đổi mới, sáng tạo, hiệu quả; chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên rất rõ rệt. Chất lượng giáo dục THCS, THPT vững chắc hơn; tỷ lệ học sinh chưa đạt chuẩn về kiến thức giảm, học sinh khá, giỏi tăng. Chất lượng thi học sinh giỏi, thi nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, cấp quốc gia, quốc tế tiếp tục được duy trì giữ vững và nâng dần chất lượng giải.
- Chất lượng phổ cập giáo dục, xóa mù chữ tiếp tục được duy trì và nâng cao mức độ đạt chuẩn; giáo dục hướng nghiệp, phân luồng học sinh, xây dựng xã hội học tập được quan tâm. Đến nay, 100% trường THCS và THPT có chương trình giáo dục hướng nghiệp gắn với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
- Cơ sở vật chất trường, lớp học tiếp tục được chú trọng đầu tư theo hướng chuẩn hóa, kiên cố hóa, hiện đại hóa. Nhiều trường học vùng cao có cơ sở vật chất tốt, cảnh quan xanh, sạch, đẹp, thân thiện. Tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 68%; Tích cực chỉ đạo triển khai xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia, tính đến hết năm 2025 có 765 trường, đạt 75,1%, trong đó, số trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 là 147 trường, chiếm 14,4 % tổng số trường.
- Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên từng bước nâng cao chất lượng, tâm huyết và trách nhiệm, nhiều cán bộ quản lý, giáo viên sáng tạo, đi đầu trong đổi mới, căn bản đáp ứng được yêu cầu đổi mới.
- Công tác xã hội hóa giáo dục và hợp tác, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh đã góp phần quan trọng thực hiện đổi mới giáo dục của Lào Cai.
8. Y tế, dân số, chăm sóc sức khỏe cộng đồng
- Hệ thống cơ sở hạ tầng y tế toàn tỉnh được quan tâm đầu tư đồng bộ, nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho Nhân dân. Hiện tại toàn tỉnh có 15 cơ sở y tế tuyến tỉnh, 17 cơ sở y tế tuyến khu vực, 216 trạm y tế xã, 05 bệnh viện tư nhân, 513 phòng khám đa khoa, chuyên khoa và khác. Cơ sở vật chất được đầu tư và từng bước hoàn thiện; 100% các cơ sở y tế công lập đều đã được xây kiên cố, hiện đại, hiện trạng hoạt động tốt. Bệnh viện đa khoa tỉnh số 1 (Yên Bái), Bệnh viện đa khoa tỉnh số 2 (Lào Cai) được thiết kế hiện đại phục vụ cho khám chữa bệnh chất lượng cao. Nhiều cơ sở được xây mới và đưa vào sử dụng trong giai đoạn 2020-2025, gồm: 07 bệnh viện khu vực Lào Cai cũ (Mường Khương, Bảo Thắng, Văn Bàn, Bắc Hà, Bảo Yên, Bát Xát, Si Ma Cai) và 05 trung tâm y tế khu vực (Bảo Thắng, Văn Bàn, Bắc Hà, Bảo Yên, Bát Xát. Có 12 dự án cải tạo sửa chữa cơ sở y tế (Bệnh viện Y học cổ truyền - Phục hồi chức năng Yên Bái, Bệnh viện Sản Nhi Yên Bái, Bệnh viện Tâm thần, các TTYT Nghĩa Lộ, Yên Bình, Trấn Yên,...).
- Công tác dân số và phát triển được quan tâm: Triển khai đồng bộ các hoạt động truyền thông giáo dục nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi và ủng hộ tích cực của toàn xã hội về công tác dân số và phát triển; duy trì tỷ lệ cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại đạt 70,6%. Các dịch vụ nâng cao chất lượng dân số ngày càng được mở rộng, 62% bà mẹ được sàng lọc trước sinh, lũy tích đạt 62,9%, trong đó phát hiện 286 trường hợp có dị tật, bất thường; được theo dõi điều trị 81 người, đình chỉ thai nghén 23 người. 52,5% trẻ sơ sinh được sàng lọc, lũy tích có đạt 57,7%, số trẻ được phát hiện có nguy cơ cao bị bệnh 290 trẻ, trong đó được tư vấn, theo dõi quá trình điều trị 163 trẻ. Có 29,1% cặp được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn, lũy tích đạt 31,5%. Có 15.731 người cao tuổi được khám sức khỏe định kì, lũy tích có 114.227 người đạt 56,6%; có 381 người được sàng lọc bệnh Thalassemia, lũy tích 2.804 người.
- Công tác KCB được duy trì thường xuyên: Đảm bảo chế độ thường trực cấp cứu, sẵn sàng tiếp nhận, điều trị bệnh nhân. Năm 2025, số giường bệnh trên vạn dân đạt 42,7 giường, bằng 103,9% kế hoạch; Số bác sỹ trên vạn dân đạt 12,8 bác sỹ, bằng 100% kế hoạch; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể chiều cao trên tuổi (thấp còi) đạt 22,7%; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể cân nặng trên tuổi (nhẹ cân) đạt 12,8%; tuổi thọ trung bình của người dân hết năm đạt 71,7 tuổi.
9. Hoạt động văn hoá, thể dục thể thao
- Lĩnh vực văn hoá: Trên địa bàn tỉnh có 207 di tích được xếp hạng các cấp gồm: 01 di tích quốc gia đặc biệt, 34 di tích quốc gia, 172 di tích cấp tỉnh (trong đó, năm 2025 xếp hạng thêm 03 di tích cấp tỉnh); 04 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO ghi danh và 56 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh. Trong tổng số 56 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, có 04 di sản được ghi danh trong năm 2025, gồm: Nghề đan lát của người Tày xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên (nay là xã Nghĩa Đô, tỉnh Lào Cai); Nghi lễ cúng rừng của người Pa Dí, huyện Mường Khương (nay là xã Mường Khương, tỉnh Lào Cai); Tết mừng cơm mới (Dạ sợ da) của người Xá Phó, huyện Văn Bàn (nay là các xã Văn Bàn, Dương Quỹ, Võ Lao, Chiềng Ken, tỉnh Lào Cai); Tri thức chế biến cá nướng, vịt bầu lam và rượu men lá của người Tày xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên (nay là xã Nghĩa Đô, tỉnh Lào Cai). Công tác bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa tiếp tục được quan tâm triển khai, gắn với phát triển du lịch và hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa đặc trưng của địa phương. Các lễ hội văn hóa dân gian được tổ chức thường xuyên, quy mô và chất lượng ngày càng nâng cao, gắn với các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở được chú trọng nâng cao chất lượng phong trào xây dựng các danh hiệu văn hóa, tỷ lệ gia đình đạt danh hiệu văn hóa đạt 85,5%; tỷ lệ thôn, tổ dân phố văn hóa đạt 77,5%. Phong trào phát triển văn hóa đọc, công tác giáo dục lịch sử tại bảo tàng và các hoạt động biểu diễn nghệ thuật tiếp tục được mở rộng, thu hút đông đảo nhân dân tham gia.
- Hoạt động thể thao: Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động thể thao phong trào, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Bên cạnh các môn thể thao đã được phát triển, phổ biến rộng rãi trong quần chúng nhân dân như cầu lông, bóng bàn, bóng chuyền, bóng đá mini, quần vợt, bóng chuyền hơi…thì có những môn mới đã và đang thu hút ngày càng đông số người tham gia tập luyện như pickleball, bóng rổ. Triển khai thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; duy trì phong trào thể dục thể thao quần chúng, số người tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên ước đến 31/12/2025 đạt trên 39,5 %, đạt 100% kế hoạch; Số hộ gia đình thể thao trên 24%; trên địa bàn tình có khoảng trên 2.000 câu lạc bộ thể dục thể thao. Hoạt động thể thao thành tích cao ngày càng được chú trọng với nhiều nguồn lực đầu tư và sự quan tâm từ các cấp, nhằm từng bước vươn ra đấu trường quốc tế. Đã tham gia 49/57 giải, đạt 85,96% kế hoạch với đạt 207 huy chương các loại, (51 HCV, 58 HCB, 98 HCĐ). Tổ chức 03 giải thể thao trong tỉnh; Lũy kế đã tổ chức 21/34 giải, bằng 61,7% kế hoạch. Duy trì công tác đào tạo huấn luyện đối với 380 vận động viên thuộc 22 bộ môn. Tham gia 03 giải Quốc tế: Giải vô địch U22 trẻ Boxing châu Á năm 2025 (giành 2 huy chương, trong đó 1 HCV và 1 HCĐ); giải Cử tạ vô địch thanh thiếu niên và vô địch trẻ Châu Á năm 2025 tại Astana - Kazakhstan (giành 01 HCĐ, VĐV); giải Vô địch Cử tạ thanh thiếu niên và trẻ châu Á năm 2025.
10. Phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số; Phát triển nhân lực và đào tạo kỹ năng số; Nâng cao chất lượng về cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình
- Hạ tầng bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh phát triển đột phá: Trên địa bàn tỉnh có 14 doanh nghiệp bưu chính, tổng số điểm phục vụ bưu chính là 485, trong đó 197 bưu cục, 274 điểm bưu điện văn hoá xã và 14 đại lý; đảm bảo 100% số xã có điểm cung cấp dịch vụ bưu chính. Hạ tầng viễn thông: được đầu tư đồng bộ từ cấp tỉnh, đến cấp huyện, xã: toàn tỉnh hiện có 4.017 trạm thu phát sóng thông tin di động, trong đó có 1.377 trạm 3G, 2.548 trạm 4G và 92 trạm 5G. Hạ tầng mạng cáp quang băng rộng phục vụ truy nhập Internet triển khai đến 99 xã, phường. Tỷ lệ thôn, bản tổ dân phố có cáp quang băng rộng đạt 98,2%; Tỷ lệ phủ sóng 4G đạt 99,5%; Tỷ lệ số thuê bao điện thoại/100 dân đạt 85,6%; Tỷ lệ thuê bao di động sử dụng điện thoại thông minh đạt 98%; Tỷ lệ hộ gia đình có kết nối Internet băng rộng cố định đạt 72%.
Triển khai các giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số đồng bộ: (i) Hạ tầng số: Hình thành Trung tâm Dữ liệu kết nối với nền tảng điện toán đám mây Chính phủ, hạ tầng số trong hệ thống chính trị được đầu tư, đáp ứng nhu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; (ii) Chính quyền số: Đôn đốc, hướng dẫn ứng dụng công nghệ số trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, nâng tỷ lệ xử lý văn bản, hồ sơ công việc trên môi trường mạng; (iii) Dữ liệu và nền tảng số: Nền tảng chia sẻ dữ liệu tỉnh (LGSP) tích hợp với các hệ thống quốc gia, hình thành kho dữ liệu số, cơ sở dữ liệu lớn (Big Data); thuê kho dữ liệu dùng chung toàn tỉnh; thúc đẩy triển khai các nền tảng số như: Cửa khẩu số, Cổng du lịch thông minh…; (iv) Kinh tế số và xã hội số: Thúc đẩy hồ sơ bệnh án điện tử tại 100% bệnh viện, với 97% dân số có hồ sơ sức khỏe điện tử và trên 75% dân số trên 14 tuổi có định danh điện tử mức độ 2. Thanh toán không dùng tiền mặt đã được triển khai rộng rãi tại các bệnh viện và trường học. 96% sản phẩm OCOP được đưa lên các sàn giao dịch trực tuyến; (vi) Triển khai Đề án 06-ĐA/TTg: Triển khai 12 mô hình, đã hoàn thành 09 mô hình, 03 mô hình đang triển khai; Công an tỉnh phối hợp với Cục C06 thực hiện các nhiệm vụ kết nối với cơ sở dữ liệu dân cư đảm bảo an toàn thông tin, tích hợp các thủ tục hành chính lên Cổng dịch vụ công Quốc gia, triển khai các thủ tục hành chính trên ứng dụng VneID; (vii) Gắn Chuyển đổi số với Cải cách hành chính: Thực hiện các nhiệm vụ thúc đẩy xếp hạng Bộ Chỉ số theo Quyết định số 766/QĐ-TTg; Thực hiện cung cấp 946 dịch vụ công trực tuyến toàn trình và 1.191 dịch vụ công trực tuyến một phần, thực hiện trực tuyến đạt tỷ lệ trên 89% hồ sơ nộp trực tuyến, 94% dịch vụ công trực tuyến có phát sinh hồ sơ trực tuyến và 98% hồ sơ trả kết quả theo hình thức trực tuyến; Tỷ lệ khai thác, sử dụng lại thông tin dữ liệu số hoá đạt 80,27%; 100% thủ tục hành chính có yêu cầu nghĩa vụ tài chính được cung cấp trên cổng dịch vụ công quốc gia.
Công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và chuyển đổi số cho tỉnh được tập trung, ưu tiên: Đào tạo, tập huấn về chuyển đổi số, kỹ năng an toàn thông tin cho 10.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh, cấp huyện, xã trong toàn hệ thống chính trị. Tổ chức tập huấn kỹ năng số cơ bản cho gần 100.000 người dân được phổ cập kỹ năng số cơ bản. Triển khai đào tạo trên nền tảng trực tuyến đại chúng mở (MOOCS) toàn tỉnh 7.670 cán bộ, giáo viên, người lao động, 150 thành viên nòng cốt, 100% thành viên tổ công nghệ số cộng đồng (7.363 người) được tập huấn kỹ năng số cơ bản.
11. Giải quyết việc làm, đào tạo nghề, an sinh xã hội
- Công tác giải quyết việc làm mới được các cấp uỷ đảng quan tâm nhằm thực hiện tốt mục tiêu giảm nghèo, nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống cho người dân: Đến hết năm 2025 giải quyết việc làm cho 30.435 người, bằng 101,5% kế hoạch, bằng 76,1% cùng kỳ năm 2024. Tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp giảm từ 51,8% năm 2024 xuống còn 50,1% năm 2025, đạt kế hoạch (<52%). Tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 6,4%. Đẩy mạnh công tác phát triển người tham gia BHXH: Dự ước đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 345.887 người tham gia BHXH; tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội đạt 23,60%, trong đó tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm 6,5%; tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp chiếm 14,83%. Các chế độ BHXH của người lao động được chi trả đúng, đủ, kịp thời.
- Công tác giáo dục nghề nghiệp tiếp tục được đẩy mạnh, đạt kế hoạch đã đề ra. Qua đó chất lượng nguồn nhân lực từng bước được cải thiện, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 70%, trong đó có văn bằng, chứng chỉ đạt 36%.
- Công tác giảm nghèo bền vững được quan tâm, chú trọng, trong đó trọng điểm là triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia. Qua đó, cơ bản các hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về giáo dục, y tế, nhà ở, vệ sinh môi trường, thông tin và truyền thông,… Hết năm 2025, tỷ lệ giảm nghèo 2,68%, tỷ lệ hộ nghèo còn lại 5,5%. Toàn tỉnh đến nay đã hoàn thành xây dựng, sửa chữa 12.915 căn nhà (xây mới 9.167 căn; sửa chữa 3.748 căn), đạt 100% kế hoạch, hoàn thành trước tiến độ đề ra, với tổng nguồn lực huy động đạt trên 1.458 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước chỉ chiếm khoảng 29,2%, còn lại là nguồn vận động xã hội hóa, hỗ trợ của cộng đồng, dòng họ và sự đóng góp từ chính các hộ dân.
- Công tác bảo trợ xã hội, bảo vệ chăm sóc trẻ em tiếp tục được các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở quan tâm, chỉ đạo sát sao: Thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội hàng tháng cho các đối tượng. Thực hiện kịp thời, đầy đủ các chế độ chính sách, huy động nguồn lực xã hội hỗ trợ nhân dân ảnh hưởng bão lũ. Công tác xóa nhà tạm, hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ người có công, thân nhân liệt sỹ và khắc phục thiệt hại về nhà ở do bão, lũ trên địa bàn tỉnh được đẩy mạnh. Tổ chức các đoàn đi kiểm tra tình hình, thăm và tặng quà nhân dịp kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và đón Tết Nguyên đán năm 2025; tổ chức thăm, tặng quà đối với các đối tượng nhân dịp Tết Nguyên đán năm 2025; tổ chức đoàn công tác dâng hương Khu tưởng niệm Chiến sĩ Gạc Ma tại xã Cam Hải Đông, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. Thực hiện đảm bảo các chế độ chính sách ưu đãi đối với người có công và người tham gia kháng chiến (người có công, thân nhân người có công với cách mạng hưởng chế độ hàng tháng theo quy định). Tổ chức các hoạt động thiết thực nhân dịp kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ (27/7/2025); thăm hỏi, tặng quà cho người có công và thân nhân người có công dịp Tết Nguyên đán.
12. Hoạt động Khoa học - Công nghệ
Tỉnh đã chủ động triển khai đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW. Tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện 65 đề tài, dự án nghiên cứu ứng dụng khoa học cấp tỉnh và Trung ương, các đề tài, dự án triển khai cơ bản đúng tiến độ được duyệt. Công tác quản lý nhà nước về công nghệ được tăng cường đẩy mạnh, các dự án xin điều chỉnh dự án đầu tư về công nghệ, thiết bị được đảm bảo đúng quy định. Công tác kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường chất lượng tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm hàng hóa lưu thông trên thị trường, đặc biệt là các hàng hóa như xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng, thiết bị điện, điện tử,... được thực hiện tốt.
13. Tài nguyên và Môi trường
- Công tác quản lý đất đai được tăng cường, tiếp tục chỉ đạo giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong công tác thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng các dự án trên địa bàn tỉnh. Thực hiện thẩm định 65 lượt hồ sơ nhận chuyển nhượng, góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp và gia hạn sử dụng; 120 lượt hồ sơ giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; tham mưu trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định,...
- Công tác quản lý tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước đã được quan tâm, chỉ đạo quản lý, từng bước đi vào nề nếp, góp phần hạn chế thất thoát tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước. Thực hiện rà soát ban hành kế hoạch tổ chức đấu giá tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, cấp giấy phép hoạt động khoáng sản, tài nguyên nước đúng quy định. Tăng cường, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với các đơn vị hoạt động khoáng sản trên địa bàn nhằm đảm bảo chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật. Rà soát, đôn đốc công tác giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xây dựng kế hoạch bảo vệ nước dưới đất trên địa bàn tỉnh.
- Công tác quản lý nhà nước về môi trường, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu đi vào nền nếp và tiếp tục được đẩy mạnh; hạ tầng về bảo vệ môi trường từng bước được đầu tư; ý thức chấp hành các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân đã ngày càng được nâng lên; tập trung triển khai thực hiện công tác phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh; chất thải rắn công nghiệp thông thường tiếp tục được chuyển giao tái chế, tái sử dụng góp phần giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; công tác triển khai phòng ngừa ứng phó sự cố môi trường trước, sau các cơn bão trong năm 2025, đặc biệt là cơn bão số 10 (Bualoi) đã được các cấp, các ngành, địa phương và các doanh nghiệp chú trọng, khắc phục nên không để xảy ra sự cố môi trường sau cơn bão.
- Giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính lĩnh vực tài nguyên và môi trường được quan tâm chỉ đạo, đảm bảo đúng thời gian quy định, giảm tỷ lệ hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính chậm muộn trong lĩnh vực đất đai xuống còn dưới 2%.
14. Quốc phòng, an ninh, đối ngoại
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục ổn định, giữ vững chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, quan hệ đối ngoại được mở rộng.
a) Quốc phòng tiếp tục được củng cố và giữ vững, chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia ổn định. Đường biên, mốc giới, cửa khẩu, đoàn ra, đoàn vào được quản lý chặt chẽ; thực hiện tốt công tác quản lý xuất nhập cảnh, quản lý người nước ngoài.
b) An ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội: Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn về cơ bản ổn định. Lực lượng công an là nòng cốt đã phối hợp chặt chẽ với các cấp các ngành tích cực, chủ động triển khai kế hoạch đảm bảo an ninh các địa bàn có tiềm ẩn phức tạp về an ninh trật tự, không để xảy ra bị động bất ngờ, không để xảy ra các vụ việc phức tạp, điểm nóng về an ninh trật tự; bảo vệ tốt nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng, an ninh thông tin, an ninh nông thôn, đô thị. Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm đẩy mạnh, tăng cường đảm bảo trật tự an toàn giao thông và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
c) Hoạt động đối ngoại: Quan hệ đối ngoại, hợp tác giữa tỉnh Lào Cai với các đối tác trong và nước ngoài vẫn tiếp tục được duy trì, phát triển.
Với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc): Tổ chức thành công Chương trình Giao lưu văn nghệ chào Xuân qua biên giới và Liên hoan nhân dân biên giới Việt Nam - Trung Quốc (Lào Cai) năm 2025 tại thành phố Lào Cai và huyện Hà Khẩu (Trung Quốc. Tổ chức Đoàn đại biểu của tỉnh tham dự Tiệc Chiêu đãi nhân kỷ niệm 75 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc tại Hà Nội. Tổ chức thành công Chuỗi sự kiện “GẶP GỠ 2025: LÀO CAI - Trung tâm kết nối giao thương kinh tế giữa Việt Nam và các nước ASEAN với vùng Tây Nam - Trung Quốc: Cơ hội cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư”. Chuẩn bị các nội dung tổ chức Hội nghị thường niên lần thứ 4 giữa các Bí thư Tỉnh ủy và Phiên họp lần thứ 11 Nhóm Công tác liên hợp giữa 4 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); tham gia Hội chợ thương mại quốc tế Việt - Trung (Lào Cai) lần thứ 25, năm 2025. Duy trì tốt cơ chế trao đổi thông tin với cơ quan Ngoại vụ của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phối hợp với phía Bạn trong việc thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh qua biên giới và thúc đẩy các hoạt động xuất, nhập khẩu, giao lưu thương mại qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai.
Với Vùng Nouvelle Aquitain, tỉnh Val-de-Marne (Cộng hòa Pháp): Tiếp tục chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai các nội dung hợp tác đã ký kết trên các lĩnh vực thể thao, du lịch, y tế, bảo vệ môi trường... Với các địa phương nước ngoài khác (Lào, Nhật Bản, Hàn Quốc...): Tiếp tục thúc đẩy các nội dung hợp tác theo các biên bản, thỏa thuận đã ký kết. Với Đại sứ quán các nước tại Việt Nam, các tổ chức quốc tế và các đối tác khác: Tổ chức đón tiếp chu đáo đoàn của Đại sứ quán các nước, các tổ chức quốc tế, các Hiệp hội, doanh nghiệp nước ngoài đến thăm và làm việc tại tỉnh; gửi thư, thiệp chúc mừng tới các địa phương, tổ chức quốc tế, đối tác nước ngoài nhân dịp lễ tết và các sự kiện quan trọng của các nước.
15. Xây dựng chính quyền, Cải cách hành chính
Bám sát chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và tỉnh Lào Cai; triển khai các công việc khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm trên tinh thần "vừa chạy vừa xếp hàng" nhưng thận trọng, chắc chắn, bài bản, không nóng vội, chủ quan; có thứ tự ưu tiên, làm việc nào chắc việc đó, làm việc này phải tính đến việc khác liên quan, và thực hiện đúng các quy trình thủ tục theo quy định, không làm tắt, làm ẩu, làm qua loa đại khái bất cứ công việc nào. Rà soát bố trí, sắp xếp trụ sở làm việc bảo đảm ổn định cho các cơ quan, đơn vị, cán bộ công chức, viên chức, bố trí, sắp xếp, xử lý tài sản phù hợp với tính chất, tận dụng tối đa công năng sử dụng phục vụ trước mắt cũng như lâu dài; ưu tiên bố trí tài sản các đơn vị hành chính cấp cơ sở mới, đồng thời rà soát chuyển đổi công năng sử dụng bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ, trọng tâm là trụ sở, cơ sở hoạt động sự nghiệp; tổ chức thực hiện bộ máy chính quyền 02 cấp (sau sáp nhập tỉnh Lào Cai còn 99 đơn vị hành chính cấp xã, giảm từ 319 xuống còn 99 đơn vị hành chính cấp xã, giảm 220 đơn vị, đạt tỷ lệ 68,9%. Số lượng sở và các tổ chức hành chính tương đương cấp sở được giảm từ 41 đơn vị (trong đó Lào Cai cũ có 21 đơn vị, Yên Bái có 20 đơn vị) xuống còn 17 đơn vị, giảm 24 đơn vị so với thời điểm 31/12/2024. Số lượng chi cục, phòng và các tổ chức tương đương thuộc UBND cấp tỉnh giảm từ 263 đơn vị (Lào Cai cũ 140, Yên Bái 123) xuống còn 114 đơn vị, giảm 149 đơn vị. Giảm 18 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm 2 thị xã, 2 thành phố và 14 huyện) và 213 phòng chuyên môn cấp huyện), các đơn vị hành chính mới đã đồng loạt đi vào hoạt động ngay bảo đảm thông suốt không để đứt gãy, gián đoạn trước, trong và sau sáp nhập.
Công tác tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện theo quy định của pháp luật và phân cấp tổ chức cán bộ. Tập trung triển khai việc bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức khi sắp xếp tổ chức bộ máy; đồng thời tiến hành rà soát, đánh giá toàn diện để xác định đối tượng nghỉ việc do sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp nhằm tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, viên chức; quan tâm, giải quyết kịp thời chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức sau sắp xếp theo quy định.
Công tác xây dựng chính quyền, cải cách hành chính đạt nhiều kết quả tốt. Một số chỉ số của tỉnh xếp thứ hạng cao trong cả nước: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được cải thiện về thứ hạng; Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index); Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS).
Báo cáo số 15/BC-UBND Tải về
Tải về