Di tích lịch sử Khu ủy Tây Bắc phường Trung Tâm, tỉnh Lào Cai - Địa chỉ đỏ trong kháng chiến chống Pháp
Lượt xem: 319
CTTĐT - Ngày 27/8/2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 3269/QĐ-BVHTTDL công nhận địa danh Khu ủy Tây Bắc, xã Phù Nham, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái ( tên gọi cũ trước khi sáp nhập tỉnh Lào Cai và Yên Bái, nay thuộc phường Trung Tâm, tỉnh Lào Cai) là di tích lịch sử cấp Quốc gia. Đây là dấu mốc quan trọng ghi nhận giá trị lịch sử đặc biệt của một vùng đất từng là trung tâm lãnh đạo cách mạng khu vực Tây Bắc trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, nơi hun đúc tinh thần kiên cường, ý chí quật cường và lòng trung kiên của quân dân các dân tộc Tây Bắc vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
anh tin bai

1. Tên gọi di tích

Địa điểm Khu ủy Tây Bắc (1952-1954), xã Phù Nham, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái (nay thuộc phường Trung Tâm, tỉnh Lào Cai mới).

Tên xã Phù Nham có từ trước thời Nguyễn. Đầu đời Gia Long (1802) Phù Nham là một trong 10 sách của huyện Văn Chấn (Thạch Lương, Tú Dung, Mần Tuyền, Phù Nham, Đại Lịch, Sơn Bộc, Hương Sơn, Thượng Bằng La, Sơn A, Hạ Lộ).  

Xã Phù Nham, vùng đất này thời Hùng Vương thuộc bộ Tân Hưng, nước Văn Lang, đến thời Thục Phán An Dương Vương, thuộc huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ. Qua các năm của thời kỳ Bắc thuộc, địa danh này nhiều lần thay đối với các tên khác nhau như: Giao Châu, Tân Hưng, Tân Xương, Hưng Châu.

Xã Phù Nham hiện nay đã được sáp nhập với các xã Nghĩa Lợi, Nghĩa Lộ và Phường Trung Tâm của Thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái cũ với tên gọi mới là Phường Trung Tâm, tỉnh Lào Cai (Thành lập theo Nghị Quyết 1673/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Lào Cai năm 2025).

2. Loại hình di tích: Di tích lịch sử cấp Quốc gia

3. Quyết định công nhận di tích: Quyết định số 3269/QĐ-BVHTTDL ngày 27/8/2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

anh tin bai

Quyết định công nhận di tích Di tích lịch sử  Khu ủy Tây Bắc là di tích cấp Quốc gia

4. Địa điểm di tích: Khu ủy Tây Bắc nay thuộc phường Trung Tâm, tỉnh Lào Cai (trước sáp nhập tỉnh Yên Bái và Lào Cai thuộc bản Chanh, xã Phù Nham, huyện Văn Chấn).

5. Đường đi đến di tích

Di tích cách Trung tâm hành chính tỉnh Lào Cai  khoảng 80 km về phía Đông Bắc. Để đến với Di tích du khách có thể đi bằng đường bộ khá thuận lợi. Từ Trung tâm hành chính tỉnh Lào Cai  ngược về phía Bắc qua cầu Yên Bái, theo đường Quốc lộ 32 tới phường Trung Tâm đi theo đường liên xã, qua cầu treo bắc qua dòng Ngòi Nhì đi khoảng 0.5km là đến Di tích.

Du khách có thể đi từ  tỉnh Lai Châu theo quốc lộ 32 (Lai Châu- Lào Cai), tới phường Trung Tâm tỉnh Lào Cai và đi tiếp đường liên thôn vào di tích.

Du khách đi từ Hà Nội tới Thu Cúc - Phú Thọ rẽ ngã ba Cát Thịnh - Lào Cai khoảng 50 km, đi tiếp theo quốc lộ 32  vào trung tâm phường Trung Tâm 28 km rồi theo đường liên thôn vào di tích.

6. Sơ lược lịch sử di tích

Sơ lược đặc điểm tình hình Tây Bắc

Nằm ở phía Bắc và Tây Bắc Bắc Bộ của Việt Nam, chiến trường Tây Bắc là một khư vực rừng núi rộng lớn có diện tích hơn 65.000 km2, chiếm 1/6 diện tích cả nước và chiếm 1/3 diện tích Bắc Bộ. Chiến trường trước đây bao gồm 9 tỉnh là Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ (đến nay tên một số tỉnh có sự thay đổi do sáp nhập các tỉnh theo Nghị Quyết 202/2025/QH15 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh đã được thông qua vào ngày 12 tháng 6 năm 2025 cụ thể: Yên Bái sáp nhập với Lào Cai thành tỉnh Lào Cai mới; Hà Giang sáp nhập với Tuyên Quang thành tỉnh Tuyên Quang; Vĩnh Phúc sáp nhập với Phú Thọ thành tỉnh Phú Thọ). Nơi đây có đường biên giới chung với Trung Quốc và Lào dài tới 1.428,9 km là bức bình phong bảo vệ phía Tây và phía Bắc của căn cứ địa Việt Bắc.

Tây Bắc có vị trí chiến lược về quân sự và là vùng đất giầu tài nguyên khoáng sản, lâm thổ sản.... Chính vì vậy, thực dân Pháp quyết tâm xâm chiếm để khống chế châu thổ Bắc Bộ, vùng Việt Bắc và vùng Thượng Lào. Thực dân Pháp đã mở đường sắt tuyến Hải Phòng-Côn Minh qua địa phận vùng Tây Bắc. Mở tuyến đường thủy sông Thao (sông Hồng) làm đường bộ lên Tây Bắc. Về quân sự, chúng tăng cường lập đồn bốt, tăng thêm quân số, tổ chức bộ máy hành chính chức dịch tay sai, thành lập các đơn vị hành chính mới trong đó có tỉnh Yên Bái thành lập ngày 11 tháng 4 năm 1900.

Cộng đồng các dân tộc Tây Bắc sống hoà nhập với nhau, giữa người Kinh và các cộng đồng dân tộc ít người thường cư trú xen kẽ, tạo thành một khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam. Đồng thời, cộng đồng các dân tộc ở đây được ràng buộc, gắn bó với nhau bằng mối quan hệ dòng tộc bền vững, những sắc thái văn hóa riêng của mỗi dân tộc, bằng những phong tục tập quán của dân tộc mình. Trải qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử, đồng  bào các dân tộc nơi đây có truyền thống siêng năng, lao động cần cù, đoàn kết chống chọi với thiên nhiên, giặc ngoại xâm, ghi lại nhiều chiến công  hiển hách trong lịch sử dân tộc.    

Tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào các dân tộc Tây Bắc cùng với nhân dân cả nước đã dũng cảm đứng lên tổng khởi nghĩa đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến lập nên chính quyền cách mạng. Ngày 22 tháng 8 năm 1945, UBCM Lâm thời tỉnh Yên Bái ra mắt tại sân căng thị xã Yên Bái.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nhà nước Việt Nam còn non trẻ, đứng  trước "ngàn cân treo sợi tóc", cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta ngay từ những ngày đầu tiền đã xác định: "Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng. Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nước chưa được hoàn toàn độc lập"', nhận diện một cách chính xác kẻ thù nguy hại nhất lúc này vẫn "là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng". Bên cạnh giặc ngoại xâm, giặc "nội xâm" tiếp tục hoành hành, gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Tổ quốc lâm nguy.

Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nhận định, chúng ta đã đề ra những sách lược khôn khéo, phân hóa cao độ kẻ thù, tạm thời hòa hoãn với quân Tưởng để giữ vững chính quyền đối phó với quân Pháp ở Miền Nam, phá tan âm mưu “diệt Cộng cầm Hồ”, “Hoa quân nhập Việt” của Tưởng Giới Thạch; đồng thời, không ngừng củng cố khối đoàn kết toàn dân, làm thất bại mọi mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, trừng trị bọn phản cách mạng và động viên toàn thể nhân dân đoàn kết một lòng, dốc sức xây dựng thực lực đất nước.

Tuy nhiên với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, nên mặc dù Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp được ký kết ngày 06 tháng 3 năm 1946, Pháp không thi hành hiệp định, chúng đưa toàn bộ cánh quân của A-lếch-xăngđri từ biên giới Trung Quốc về đánh chiếm Lai Châu và Sơn La. Trước tình hình đó, thấy rõ tầm quan trọng, vị trí chiến lược của chiến trường miền Tây đổi với toàn bộ Tây Bắc, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo tổ chức Mặt trận Tây Bắc và chuẩn bị kế hoạch ứng phó đế giữ vững vùng căn cứ địa. Vì vậy, ngay trước ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ đã quyết định thành lập các chiến khu xây dựng căn cứ địa và lực lượng vũ trang để chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài.

 Nơi đặt trụ sở của Khu ủy Tây Bắc từ tháng 11/1953 đến cuối năm 1954 là bản Chanh, xã Phù Nham, huyện Văn Chấn (tên địa danh cũ của tỉnh Yên Bái trước sáp nhập). Trước đây bản Chanh được gọi là bản Chanh Quân, song do mật độ dân cư ngày càng đông nên bản Chanh Quân được tách thành hai bản là bản Quân và bản Chanh.

anh tin bai

Vào thế kỷ XIX, khoảng năm 1873 khi giặc cờ Vàng (tàn quân của phong trào khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc - Trung Quốc) do Dịp Tài (theo cách đọc của người Thái, còn tên chính thức được ghi trong sử sách là Diệp Tài) cầm đầu kéo quân vào xâm chiếm đất Mường Lò, dân Phù Nham đã anh dũng đứng lên theo lời kêu gọi của vị thủ lĩnh người Thái là Cầm Ngọc Hánh chống lại giặc cờ Vàng.

Năm 1875 - 1896 hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, phong trào chống Thực dân Pháp do Nguyễn Quang Bích chỉ huy đã phát triển nhanh chóng. Ở Yên Bái (nay là tỉnh Lào Cai) đã hình thành các trung tâm hoạt động của nghĩa quân tại các vùng Đại Lịch, lòng chảo Mường Lò... trong thời gian đó, nhân dân các dân tộc tại các địa điểm trên đã đoàn kết một lòng cùng nghĩa quân chống lại bọn xâm lược và nhân dân xã Phù Nham cũng nhiệt tình tham gia những hoạt động đó.

Suốt một thời gian dài, người dân nơi đây sống trong cảnh nô lệ lầm than, làm tôi tớ cho bọn Phìa Tạo, bị giặc Pháp bắt phu, bắt lính, đói khát, bệnh tật... họ chỉ biết trông vào số phận. Đâu đó trong lịch sử cũng có những cuộc đấu tranh của nhân dân chống lại bọn thống trị tàn ác, song không đạt được kết quả như mong muốn. Từ khi có ánh sáng của Đảng, nhất là từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân các dân tộc nơi đây mới biết đến khái niệm “Độc lập - Tự do”. Có Đảng, có Bác Hồ và được cán bộ tuyên truyền giác ngộ cách mạng, nhân dân xã Phù Nham đã tham gia vào công cuộc đấu tranh giải phóng quê hương đất nước. Căn cứ Nong Bon là sợi dây nối nhân dân Phù Nham với Đảng. Tấm lòng của nhân dân Năm Hăn, Bản Chanh... qua những nắm cơm, hạt muối nuôi giấu cán bộ, qua những lần bị địch hăm doạ, đàn áp nhưng người dân Phù Nham vẫn không chịu khuất phục, một lòng kiên trung theo Đảng, theo cách mạng, đấu tranh giải phóng xây dựng quê hương.

Sau thất bại nặng nề ở Tây Bắc (12/1952), Thượng Lào (4/1953) và các mặt trận khác trên chiến trường Đông Dương, ngày 20/11/1953, thực dân Pháp cho quân nhảy dù xuống khu lòng chảo Mường Thanh (Điện Biên Phủ) xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, quân số trên 15 ngàn quân với đầy đủ vũ khí hiện đại, xe tăng, máy bay để nhằm khống chế quân ta, chiếm lại khu Tây Bắc.

Tháng 9/1951, Trung ương Đảng và Bộ tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Lý Thường Kiệt nhằm giải phóng phân khu Nghĩa Lộ do quân Pháp chiếm đóng từ năm 1947. Lực lượng bộ đội chủ lực tham gia có sư đoàn 312 phụ trách hướng chính, có sự phối hợp của các đơn vị địa phương tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang và Yên Bái. Hướng phụ có trung đoàn 148 và bộ đội địa phương tỉnh Lào Cai (Yên Bái và Lào Cai sáp nhập nay là tỉnh mới Lào Cai). Do việc giữ bí mật chưa được tốt nên khi ta mở chiến dịch có tiêu diệt được một số sinh lực địch, chiếm được một số đồn nhưng sau đó ta lại phải rút quân ra vùng tự do, địch lại tái chiếm và đến ngày 1/11/1951 chiến dịch kết thúc.

Để chuẩn bị giải phóng khu Tây Bắc khỏi sự chiếm đóng của thực dân Pháp, tháng 5/1952 Trung ương Đảng và Hồ Chủ Tịch quyết định 4 tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu và Sơn La tách khỏi Liên khu Việt Bắc và dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của khu XX (tiền thân của Khu ủy Tây Bắc).

Giữa năm 1953, Trung ương điều động đồng chí Trần Quyết - Bí thư Tỉnh ủy Sơn La bổ sung vào Khu ủy, giám đốc công an khu Tây Bắc, ông Lò Văn Mười - Ủy viên ban hành chính kháng chiến tỉnh Sơn La về nhận công tác ở Khu.

Tháng 5/1952, trụ sở khu XX đóng tại làng Đồng Lý huyện Yên Bình, tỉnh Tuyên Quang (nay thuộc tỉnh Yên Bái). Ngày 14/10/1952, chiến dịch Tây Bắc bắt đầu, chỉ trong vòng mười ngày ta đã giải phóng được một vùng rộng lớn bên tả ngạn sông Đà gồm các huyện Văn Chấn, Than Uyên (Yên Bái), Phù Yên và một phần huyện Quỳnh Nhai (Sơn La); sau đó bộ đội ta mở đợt hai chiến dịch Tây Bắc, đến cuối tháng 12/1952 giải phóng phần lớn Tây Bắc (trừ cứ điểm Nà Sản và thị xã Lai Châu).

Để việc lãnh đạo được sâu sát hơn, tháng 11/1952 khu XX đã chuyển trụ sở về đóng tại xã Hưng Khánh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái (Thác Thiến -  Km28, đường 13A). Đầu năm 1953, ta mở đường 13A từ Ba Khe sang nối với đường 41 (Hà Nội đi Sơn La - Lai Châu) ở Cò Nòi để chuẩn bị lực lượng tấn công tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Thấy nguy cơ bị tấn công nên giặc Pháp bí mật rút bỏ cứ điểm Nà Sản (5/1953) để bảo toàn lực lượng.

Hòng lấy lại thế chủ động trên các mặt trận, chiến trường nói chung, trên địa bàn Tây Bắc nói riêng và bảo vệ cho số quân Pháp còn đóng ở thị xã Lai Châu và che chở cho Thượng Lào, ngày 20/11/1953, Pháp cho quân nhảy dù xuống chiếm khu lòng chảo Mường Thanh (Điện Biên Phủ) và xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm mạnh để khống chế vùng Tây Bắc của ta.

Lúc này, Khu ủy được đóng ở xã Hưng Khánh, huyện Trấn Yên gần đường 13A rất dễ lộ và bị địch bắn phá ác liệt. Để đảm bảo an toàn cho cơ quan và nhất là chuẩn bị phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, tháng 11/1953 Trung ương đã cho di rời toàn bộ Khu ủy Tây Bắc từ xã Hưng Khánh, huyện Trấn Yên vào đóng tại bản Chanh, xã Phù Nham, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.

Tháng 11/1953, Khu ủy Tây Bắc đã chuyển toàn bộ các cơ quan của Khu ủy vào đóng rải rác tại các bản làng của xã Phù Nham, huyện Văn Chấn.

Tại đây được sự che chở, giúp đỡ của đồng bào các dân tộc, các cơ quan của Khu ủy đã dựng nhà ở giống như nhà dân dọc bờ ngòi Nhì để đảm bảo bí mật. Nơi làm việc là những dãy lán trại làm bằng tre nứa, lợp tranh núp dưới các lùm cây cao, ban ngày cán bộ của Khu ủy làm việc dưới lán, đêm về nhà dân ngủ.

Bản Chanh, xã Phù Nham vừa giải phóng được gần một năm (từ tháng 2/1952 đến thời điểm Khu ủy chuyển đến, tháng 11/1953), song chiến tranh vẫn để lại những dấu ấn nặng nề về cả mặt kinh tế và đời sống tinh thần của con người. Lợi dụng những khó khăn đó, bọn tàn binh, lũ tay sai nhen nhóm các hoạt động chống đối lại chính quyền cách mạng còn non trẻ hòng chia rẽ khối đoàn kết dân tộc đang được toàn dân hưởng ứng. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Khu ủy, trực tiếp là Bộ tư lệnh Quân khu, bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương các tỉnh đã ngăn chặn, tiêu diệt được bọn phỉ Cầm Đức, Giàng Páo Của được Pháp tiếp tế vũ khí lương thực nổi dậy gây rối ở một số nơi như Sơn La, Lào Cai, Xà Hồ, Bản Mù (Trạm Tấu -Yên Bái). Bọn phản động người Mông ở Suối Giàng, Phình Hồ cũng ngóc đầu dậy bắt liên lạc với nhau nhằm đánh chiếm vùng lòng chảo Mường Lò. Cũng trong năm 1953, Khu ủy đã phát động cuộc vận động quần chúng đánh đổ bọn Việt gian phản động, giữ vững an ninh ở địa phương.

anh tin bai

Quân và dân trong chiến dịch Điện Biên Phủ

 Để huy động, động viên sức người sức của phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Khu ủy Tây Bắc thành lập Hội đồng cung cấp tiền phương của Khu do đồng chí Lê Trung Đình, Thường vụ Khu ủy phụ trách, đóng trụ sở tại thôn Ba Khe, xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.

Trong thời gian hơn một năm Khu ủy đóng ở xã Phù Nham, nhân dân các dân tộc bản Chanh và một số bản của xã Phù Nham và huyện Văn Chấn đã đóng góp nhiều công sức dựng nhà cửa, lán trại, cung cấp lương thực thực phẩm cho cán bộ, quân đội để góp phần vào công cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp của bốn  tỉnh Tây Bắc đi đến thắng lợi.

Cùng với Đảng bộ, quân dân địa phương, Khu ủy Tây Bắc đã phát huy tối đa vai trò lãnh đạo, phát động chiến tranh nhân dân, tuyên truyền khơi dậy lòng yêu nước, lòng căm thù giặc sâu sắc, từ đó huy động được sức người sức của chi viện cho chiến trường. Dưới sự chỉ đạo của Khu ủy Tây Bắc, quân dân Tây Bắc góp phần cùng quân dân cả nước kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp và can thiệp của Mỹ bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, làm nức lòng quân dân cả nước và bầu bạn khắp năm châu.

anh tin bai

Đoàn xe đạp thồ trên đường vào Chiến dịch Điện Biên Phủ

Sau ngày hòa bình lập lại và trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mặc dù trụ sở Khu ủy đã được chuyển rời đến địa phương khác, song vẫn tiếp tục phát huy truyền thống những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, bảo vệ và xây dựng lực lượng cách mạng, cán bộ Khu ủy vẫn tiếp tục cùng với chính quyền 4 tỉnh (Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu và Sơn La) xây dựng các đơn vị quân đội vững mạnh vừa tham gia chiến đấu, ngăn chặn sự chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt là nhiệm vụ tiễu phỉ và tham gia sản xuất, xây dựng hậu phương miền Bắc - Xã hội chủ nghĩa, chi viện cho miền Nam đánh đuổi Đế quốc Mỹ, thống nhất nước nhà.

Đến nay, do yêu cầu mới của cách mạng và đất nước, mặc dù Khu ủy Tây Bắc không còn tồn tại nữa, song địa danh bản Chanh, xã Phù Nham - nơi Khu ủy chọn đặt trụ sở làm việc, lãnh đạo phong trào cách mạng của bốn tỉnh Tây Bắc đã trở thành một địa danh khắc sâu vào tâm trí và tình cảm của những thế hệ cán bộ, nhân dân đã trực tiếp tham gia hoạt động, phục vụ kháng chiến. Nơi đây đã được ghi vào lịch sử thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, xứng đáng được công nhận là Di tích lịch sử cách mạng, là địa chỉ đỏ về nguồn để các cấp bộ Đảng, chính quyền, nhân dân các dân tộc trong vùng mà trực tiếp là huyện Văn Chấn, xã Phù Nham (nay là phường Trung Tâm, tỉnh Lào Cai mới) phát huy truyền thống lịch sử của quê hương, bảo tồn và khai thác giá trị của Di tích phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế, xã hội, chăm lo đời sống tinh thần, giáo dục truyền thống lịch sử của dân tộc và địa phương.

 

 

 

Cổng TTĐT tỉnh
  • Phim tài liệu: Lào Cai - Yên Bái: Cùng nhau bước đi, chạm tay đến ước mơ
    (19/04/2025)
  • PS ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI LÀO CAI 2024
    (25/06/2024)
  • GIỚI THIỆU LÀO CAI
    (20/07/2023)
  • XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI
    (20/07/2023)
  • PS Chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới ở Lào Cai năm 2022
    (22/12/2022)
1 2 3 4 
Đăng nhập
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1