banner
  • Điều kiện tự nhiên

    Vị trí địa lý: Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nằm chính giữa vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc của Việt Nam, cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 265 km theo đường bộ. Diện tích tự nhiên: 6.383,88 km2 (chiếm 2,44% diện tích cả nước, là tỉnh có diện tích lớn thứ 19/64 tỉnh, thành phố cả nước).

  • Dân số và nhà ở năm 2019

    CTTĐT - Tổng số dân của tỉnh Lào Cai vào thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2019 là 730.420 người, trong đó, dân số nam là 371.306 người, chiếm 50,8% và dân số nữ là 359.114 người, chiếm 49,2%. Với kết quả này, Lào Cai là đông dân thứ 55 của cả nước (55/63 tỉnh).

  • Dân số năm 2018

    CTTĐT - Dân số toàn tỉnh: 705,628 người. Mật độ dân số bình quân: 110,9 người/km2, bao gồm dân số thành thị 163,524 nghìn người, chiếm 23,17%; dân số nông thôn 542,104 nghìn người, chiếm 76,83%; dân số nam 356,437 nghìn người, chiếm 50,51%; dân số nữ 349,191 nghìn người, chiếm 49,49%.

  • Dân số năm 2017

    Dân số toàn tỉnh: 694.416 người (số liệu năm 2017). Mật độ dân số bình quân: 109 người/km2, trong đó:

  • Dân số

    Dân số toàn tỉnh: 674.530 người (số liệu năm 2016). Mật độ dân số bình quân: 106 người/km2, trong đó:

  • Cơ sở hạ tầng

    CTTĐT - Lào Cai có vị trí địa kinh tế, địa chính trị, đóng vai trò trung tâm trên tuyến hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, là cầu nối, cửa ngõ không chỉ của Việt Nam mà cả các nước ASEAN với thị trường tỉnh Vân Nam và miền Tây Nam, Trung Quốc.

  • Cơ sở hạ tầng

    - Điện: Điện lưới quốc gia được cấp đến 100% các xã, phường, thị trấn. - Nước: Hệ thống nước sạch được cấp đến tất cả các huyện, thành phố, đảm bảo cung cấp đủ cho sinh hoạt và hoạt động sản xuất kinh doanh.

  • Quá trình hình thành và phát triển

    CTTĐT - Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới nằm phía Tây Bắc Việt Nam cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 265 km theo đường bộ. Phía đông giáp tỉnh Hà Giang; phía tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu; phía nam giáp tỉnh Yên Bái, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với hơn 182,086 km đường biên giới (trong đó: Đường biên giới trên sông là 131,654 km và đường biên giới trên đất liền là 50,432 km). Cách ngày nay hơn vạn năm, con người đã có mặt tại địa bàn Lào Cai. 

  • Huyện Sapa

    Sa Pa tên gọi này từ tiếng quan thoại. Tiếng quan thoại gọi Sa - Pả, “Sa” là cát, “Pả” là bãi. Đia danh của “bãi cát” này ở bên phải cầu km 32 từ Lào Cai vào Sa Pa. Ngày xưa chưa có thị trấn Sa Pa, cư dân ở vùng đất này đều họp chợ ở “bãi cát” đó, do vậy, dân địa phương ai cũng nói là “đi chợ Sa Pả”.

  • Huyện Bảo Yên

    Hành trình lên Tây Bắc ngược chiều con sông Chảy bốn mùa nước trong xanh, theo quốc lộ 70, qua đất Lục Yên, khi thấy xuất hiện hai bên ven đường những vườn cam sành trĩu quả, những địu măng tươi hay gùi khoai sọ tím dẻo thơm trĩu nặng trên đôi vai những thôn nữ duyên dáng đón mời, biết đã tới đất Bảo Yên – quê hương trận Phố Ràng lịch sử, cửa ngõ phía Đông Nam mở vào vùng đất giàu truyền thống đấu tranh cách mạng và thấm đẫm văn hoá đặc sắc 27 dân tộc Lào Cai.

  • Huyện Văn Bàn

    Nằm ở phía Nam tỉnh Lào Cai trên độ cao từ 700 đến 900 mét so với mặt nước biển, Văn Bàn là huyện vùng cao, có diện tích lớn thứ 2 trong tỉnh, gồm 12 dân tộc: Kinh, Tày, Mông, Dao, Giáy, Thái, Nùng, Mường, Hoa, Phù Lá, Sán Chay, Hà Nhì, đông nhất là dân tộc Tày (chiếm hơn 50%), các dân tộc có số lượng ít là Nùng, Mường, Hoa, Sán Chay, Hà Nhì. Đặc biệt, Văn Bàn là nơi duy nhất của tỉnh Lào Cai có dân tộc Mông Xanh - một trong 4 ngành của dân tộc Mông cư trú ở Việt Nam.

  • Huyện Bắc Hà

    Bắc Hà là huyện vùng cao tỉnh Lào Cai. Người địa phương (người Tày, Nùng) gọi là Pạc Ha (nghĩa là trăm bó gianh). Thời Pháp thuộc, các dịch giả người Pháp gọi là PaKha. Bắc Hà cũng như các huyện, thị khác có một quá trình lịch sử phát triển lâu dài. Từ thời Hùng Vương thuộc đất Tây Âu của Thục Phán; thời Bắc Thuộc thuộc châu Cam Đường, quân Giao Chỉ; thời Lý thuộc châu Đăng; đời Trần thuộc lộ Quy Hoá; từ thời nhà Lê đến thời Pháp chiếm đóng thuộc động Ngọc Uyển, châu Thuỷ Vĩ, phủ Quy Hoá.

  • Huyện Bát Xát

    Bát Xát là gọi theo ngôn ngữ người Giáy. Gọi đúng từ, đúng âm là “Pạc srạt” với hai nghĩa hiểu khác nhau. Nghĩa thứ nhất là “Một trăm tấm cót” bởi vì “Pạc” là một trăm, “srạt” là tấm cót, còn nghĩa thứ hai là “miệng thác” hoặc “bến thác”, vì “Pạc cũng có nghĩa là “miệng”, còn “srạt” có thể hiểu là “thác” hoặc sóng cuốn, có câu trong tiếng Giáy “rắm păn srạt” (nước cuốn cót”. Vậy hiểu Bát Xát theo nghĩa nào cũng chưa có dịp để xác định.

PS DU LỊCH VỚI XÂY DỰNG NTM
  • PS DU LỊCH VỚI XÂY DỰNG NTM
  • PS NTM GIAI ĐOẠN 2015 - 2020
  • THÀNH PHỐ HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ XÂY DỰNG NTM
  • Lào Cai 2 năm thực hiện chương trình OCOP
  • PS 02 năm xây dựng thôn kiểu mẫu, thôn nông thôn mới
1 2 3 
Thống kê truy cập
  • Đang online: 148
  • Hôm nay: 17,858
  • Trong tuần: 39,307
  • Tất cả: 51,236,238
Đăng nhập