Lượt xem: 1019
Niềm tin Pú Tham Thẩu
Từ thị trấn Phố Ràng (Bảo Yên), chúng tôi theo Quốc lộ 279 tới xã Nghĩa Đô - vùng đất có 5 dân tộc anh em chung sống, nhưng 98% là dân tộc Tày. Nơi đây ẩn chứa câu chuyện cổ gắn liền với phong tục thờ cúng thổ thần, tuy mang nhiều màu sắc tâm linh nhưng cũng có nhiều chi tiết gắn liền với cuộc sống thực tế của đồng bào địa phương. Cũng nhờ sự kính trọng với vị thổ thần này mà theo người dân, họ đã được thần phù hộ cho cuộc sống bình an, đủ đầy. Sự tích này đã được ông Ma Thanh Sợi - một nghệ nhân rất am hiểu văn hóa Tày sưu tầm, ghi chép lại để lưu truyền cho đời sau.

Sự tích Pú Tham Thẩu

Pú Tham Thẩu theo tiếng của người Tày có nghĩa là “Núi Ba Cụ” hay “Núi Tam Đỉnh”, đây chính là tên mỏm núi cao nhất (cao 1.143 m so với mực nước biển) của dãy núi bao quanh mạn phía Tây Nam xã Nghĩa Đô. Nhìn từ xa, cả dãy núi đứng sừng sững, hiên ngang như một con đê lớn bảo vệ, bao bọc cho những bản làng dựa lưng vào sườn Đông dãy núi. Chuyện về mỏm núi Ba Cụ là một sự tích được người dân nơi đây truyền miệng với một thái độ hết sức thành kính.

 

Bản làng trù phú dưới chân Pú Tham Thẩu.

Người Tày ở xã Nghĩa Đô thường kể lại với nhau rằng: Từ thủa khai thiên lập địa, tại vùng này có một người đàn ông lấy hai vợ, dựng lều lớn sinh sống trước cửa hang Lùng Quang, thượng nguồn suối Nặm Hốc. Về sau, người này dựng được cơ nghiệp lớn, cùng hai bà vợ sinh ra 14 người con (11 con trai, 3 con gái) và được người dân quanh vùng suy tôn làm động trưởng (trưởng bộ tộc). Khi 14 người con trưởng thành, họ đi khắp nơi trong vùng để xây dựng gia đình, sinh con nhưng cuối cùng vẫn trở về sống quanh khu vực rừng thuộc đầu nguồn suối Nặm Hốc.

Thủa ấy, rừng vốn mênh mông, bạt ngàn, nhưng khu vực đầu suối Nặm Hốc ngày càng chật hẹp, không đủ cho cả 15 gia đình cùng sinh sống, buộc họ ngày càng phải tiến dần ra các triền núi xung quanh. Dần dần, đất đai màu mỡ mấy cũng cạn kiệt, muông thú ngày càng thưa khiến người cha nghĩ đến việc tìm miền đất mới cho đại gia đình sinh sống. Một hôm, người cha gọi 14 người con đến, dẫn lên mỏm núi cao nhất và nói rằng: Các con đều đã trưởng thành, trong động thì chật hẹp, giờ lên đây nhìn rõ cả vùng. Các con hãy rủ nhau ra chỗ đất thấp, đất bằng dưới kia mà làm ăn. Ngày trước, người ta sợ thần đất bằng, sợ thần nước lớn không dám đến đấy ở và cũng vì đất bằng đốt nương không cháy. Nhưng giờ các con cần chọn nơi đó để làm chỗ định cư, chỗ trồng cây mà lấy hạt thì mới sống được. Nói xong, ông chỉ từng vùng cho mỗi người con, rồi cùng nhau về động.

Về sau, 14 người con đều nghe theo lời ông đến các khu đất bằng phẳng để gây dựng cơ nghiệp. Còn ông và hai bà vợ ở lại hang, chờ người con nào dựng được nghiệp sớm nhất sẽ đến đón họ xuống núi. Nhưng khi các con đều đã dựng được nhà cửa, ruộng, nương trở về đón thì ông và hai bà từ chối, ở lại rồi thác tại hang Lùng Quang.

Theo nguyện vọng của người cha, sau khi chết đi, người cha được các con chôn ở nơi thẳng với mỏm núi cao nhất - gọi là Pom Pú (đỉnh Ông); bà cả được chôn tại mỏm núi bên trái - gọi là Pom Già Cải (đỉnh Bà Cả); bà hai được chôn ở mỏm bên phải thấp hơn - gọi là Pom Già Nà (đỉnh Bà Dì). Đồng thời, họ còn được xếp đá, lập miếu tại cửa động Thẳm Kia (hang Dơi). Ngày nay, khu vực cửa hang Dơi đã bị người dân phát quang để trồng lúa, trồng ngô, đá được xếp gọn thành đống trước cửa hang, hiện vết tích một số kè đá vẫn còn.

Trải qua nhiều thăng trầm, biến cố của lịch sử, người Tày từ nơi khác đến đây sinh sống, tiếp nhận khu vực núi Tham Thẩu. Để nhớ ơn người khai sinh ra vùng đất này, người Tày đã tôn vị động trưởng năm xưa là thổ thần, hình thành nên phong tục thờ thần Thổ công hai vợ mà chỉ người Tày nơi đây mới có.

Bản làng trù phú dưới chân Pú Tham Thẩu

Những vùng đất được 14 người con chia nhau khai phá nối liền lại với nhau tạo thành những cánh đồng rộng lớn, hình thành 12 thôn, bản tại khu vực xã Nghĩa Đô và 1 phần xã Vĩnh Yên ngày nay.

Theo lời kể của người già nơi đây, 12 thôn, bản cổ được đặt tên sau khi 14 người con khai khẩn đất đai là: thôn Hốc, Đon, Pác Bó, Thâm Mạ, Thâm Luông, Nặm Cằm, Kem, Nà Mường, Hón, Lằng, Ràng, Rịa; sau đó, dần dần được chia tách thành 16 thôn, bản của xã Nghĩa Đô ngày nay.

Hiện nay, vẫn còn 6 thôn được sử dụng mạch nước từ suối Nặm Hốc, núi Ba Cụ là các thôn Kem, Nà Mường, Hón, Lằng, Ràng, Rịa. Người dân ở đây tin rằng, khi sử dụng nước dòng suối chảy từ núi Ba Cụ về, họ có thể sống khỏe mạnh, không sợ bệnh tật.

Người Tày tin rằng, việc thờ thần Thổ công hai vợ giúp họ có cuộc sống bình an, vì có thần phù hộ mà cây cối tốt tươi, con người và vật nuôi luôn khỏe mạnh. Vậy nên, nhà nào cũng thờ thổ thần, thường sửa soạn lễ cúng vào những dịp lễ, tết hay khi trong nhà có việc lớn.

 

Đời sống của người dân dưới chân núi Pú Tham Thẩu đã có nhiều đổi thay nhờ chương trình xây dựng nông thôn mới.

Để chúng tôi thấy sự đổi thay, trù phú của những vùng đất quanh chân núi Ba Cụ, ông Ma Thanh Hà, Chủ tịch UBND xã Nghĩa Đô dẫn chúng tôi đi một vòng trên con đường bê tông sạch, đẹp đến từng thôn, bản. Vừa đi, ông vừa giới thiệu những nếp nhà sàn truyền thống của người Tày vốn rất đẹp và kiên cố, nay được phủ thêm lớp sơn bóng khiến cả vùng đất này thêm bừng sáng.

Ông Hà khẳng định: Nghĩa Đô vốn là một xã khó khăn, đời sống của người dân chưa giàu nhưng cũng tạm đủ đầy, đầm ấm. Quan niệm, phong tục của người dân về thờ cúng thổ thần hai vợ và sự tích Pú Tham Thẩu rất đáng trân trọng, đó cũng là điểm tựa để người dân nơi đây yên tâm xây dựng quê hương giàu đẹp và trù phú. Xã có diện mạo như hôm nay là nhờ người dân chủ động, sáng tạo trong phát triển kinh tế, tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý và nhờ chính sách hỗ trợ vùng nông thôn của Nhà nước...

Đặc biệt, Nghĩa Đô thực sự chuyển mình từ khi Nhà nước thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Xã đã về đích xây dựng nông thôn mới vào đầu năm 2015, đời sống của người dân được nâng cao rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Nhiều gia đình trong xã có “của ăn, của để”, có điều kiện sửa sang nhà cửa, thậm chí xây nhà tầng, đồng thời quan tâm cho con em học hành đầy đủ... Trong xã hiện có hàng trăm mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể. Chỉ tính riêng giai đoạn 2010 - 2015, tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn cũ) ở Nghĩa Đô đã giảm từ 45,5% (năm 2010) xuống 9,58% (năm 2015); tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên chiếm 91%; thu nhập bình quân đầu người hiện nay đã vượt mức 20 triệu đồng/năm. Hạ tầng nông thôn được đầu tư nâng cấp, 100% thôn, bản có đường bê tông đến trung tâm thôn, có nhà văn hóa thôn; các trường học trên địa bàn đều được đầu tư nâng cấp, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trong xã...

Là người đau đáu giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống của người Tày, cũng là người chứng kiến sự đổi thay từng ngày của vùng đất dưới chân núi Pú Tham Thẩu, ông Ma Thanh Sợi không giấu nổi niềm vui khi nói với chúng tôi rằng: Chuyện về núi Ba Cụ là sự tích gắn liền với phong tục thờ cúng thổ thần hai vợ trong văn hóa người Tày Nghĩa Đô. Có lẽ cũng chính nhờ niềm tin với người khai sinh ra vùng đất này mà người dân nơi đây luôn chăm chỉ, cần cù, sáng tạo, góp phần tạo nên bức tranh sáng cho quê hương.

Một năm mới lại đến, Pú Tham Thẩu vẫn sừng sững đứng hiên ngang che chở, bao bọc cho các thôn, bản trù phú dưới thung lũng Nghĩa Đô. Tết này, các bản đã sẵn sàng báo công lên thổ thần về một năm thắng lợi và càng nỗ lực hơn để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc./.

 

Theo LCĐT

Họ tên no image
no image
Tiêu đề no image
Nội dung no image
Mã kiểm tra no image










Thống kê truy cập
  • Đang online: 203
  • Hôm nay: 3594
  • Trong tuần: 126,815
  • Tất cả: 25,832,242
Đăng nhập