Kết quả giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết ĐH Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (Giai đoạn 2006 - 2010) 
(01/11/2010 )
 

Một số nội dung trích trong báo cáo kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII nhiệm kỳ 2005 - 2010   

          Trong nửa nhiệm kỳ qua, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lào Cai triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2005-2010, trong điều kiện có nhiều thời cơ, thuận lợi và không ít khó khăn, thách thức đan xen.

Về thuận lợi: Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo tiếp tục giành được nhiều thành tựu to lớn, nước ta gia nhập tổ chức Thương mại thế giới và là thành viên quan trọng của nhiều tổ chức quốc tế. Kinh tế- xã hội đất nước tiếp tục có bước phát triển và hội nhập sâu với thế giới. Đảng và Nhà nước tiếp tục có nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội miền núi, vùng cao; nhiều dự án của nhà nước phục vụ cho hội nhập kinh tế thế giới; việc hình thành 2 hành lang, 1vành đai kinh tế,.v.v, tạo thuận lợi cho Lào Cai phát triển. Tình hình chính trị trong nước ổn định, niềm tin của nhân dân đối với Đảng ngày càng được củng cố.

Những thành tựu giành được sau gần 15 năm tái lập tỉnh đã tạo tiền đề vững chắc cho việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ  giai đoạn 2005-2010 và đến năm 2015. Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội được đầu tư và đang phát huy hiệu quả. Bộ máy tổ chức trong hệ thống chính trị được xây dựng, củng cố ngày càng trong sạch, vững mạnh. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác của đội ngũ cán bộ các cấp được nâng lên một bước. Quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; quan hệ đối ngoại không ngừng phát triển, mở rộng. Vai trò, vị thế của Lào Cai trong khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc, cũng như vị trí “ đầu cầu “ giữa Việt nam với vùng Tây Nam- Trung Quốc và các nước trong khối ASEAN ngày càng được khẳng định, tạo cơ hội cho sự phát triển. 

Tiếp nối truyền thống đoàn kết, tự lực, tự cường của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc của một tỉnh có 100 năm thành lập, phát huy những thành tựu to lớn trong những giai đoạn trước, vững bước vượt qua khó khăn, thách thức, Tỉnh ủy Lào Cai khóa XIII tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội bằng 7 chương trình với 29 đề án, nghị quyết chuyên đề. Đồng thời, tập trung mọi nguồn lực để đầu tư, nhất là đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân và đẩy mạnh khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Vì vậy đã tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền địa phương  ngày càng được củng cố, nâng cao .

         Về khó khăn, thách thức:                                         

Cùng với những khó khăn, thách thức vốn có của tỉnh, hệ thống giao thông huyết mạch từ Hà Nội đến Lào Cai đã quá tải và xuống cấp nghiêm trọng, làm hạn chế và nản lòng các nhà đầu tư, cản trở lớn đến việc phát triển kinh tế- xã hội và giao thương quốc tế. Thiên tai, dịch bệnh thường xuyên xảy ra; đặc biệt, đầu năm 2008 xảy ra đợt rét đậm rét hại kéo dài và cơn bão số 4 vừa qua làm chết và mất tích 79 người, thiệt hại tài sản gần 1000 tỷ đồng. Cuối năm 2007 và  6 tháng đầu năm 2008, giá hàng hóa, nguyên, nhiên, vật liệu tiếp tục tăng cao, ảnh hưởng lớn đến tiêu dùng và hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ bản, thu hút đầu tư; ảnh hưởng lớn đến tiến độ đầu tư các dự án trên địa bàn.

An ninh nông thôn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “ Diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng Việt Nam; vụ buôn lậu nguyên liệu lá thuốc lá của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thiên Lợi Hòa gây khó khăn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh.

Trong bối cảnh đó, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lào Cai với quyết tâm cao độ, đã tranh thủ được những thời cơ, thuận lợi, chủ động vượt qua những khó khăn, thách thức; triển khai nhiều chủ trương, giải pháp thực hiện tích cực và hiệu quả; cùng với sự phấn đấu nỗ lực của toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh, nửa nhiệm kỳ qua, kinh tế- xã hội tiếp tục phát triển nhanh và toàn diện, nhiều chỉ tiêu đã đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIII đề ra.

PHẦN I

Tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng

và các mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ tỉnh

  A. Kết quả tổ chức nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết.

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, Tỉnh ủy đã chỉ đạo các cấp ủy đảng thực hiện tốt công tác nghiên cứu, quán triệt nội dung của Nghị quyết tới cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Kết quả, hầu hết đảng viên và trên 90% nhân dân đã được tiếp thu Nghị quyết, nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của tỉnh được nâng lên một bước, quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân ngày càng được củng cố sâu bền. Đồng thời, Tỉnh ủy chỉ đạo cấp ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, lấy hiệu quả công tác làm mục tiêu, chống phô trương, hình thức.Thường trực Tỉnh ủy, HĐND,UBND tỉnh duy trì thường xuyên giao ban định kỳ hàng tuần, do đó nắm chắc tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân, kịp thời chỉ đạo giải quyết những vấn đề phát sinh, vướng mắc ở cơ sở. Phát huy những bài học kinh nghiệm của giai đoạn trước, ngay trong năm đầu thực hiện nghị quyết đại hội đảng các cấp nhiệm kỳ 2005-2010, căn cứ vào tỉnh hình thực tế của địa phương, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ khóa XIII đã lường trước được thời cơ, thách thức, tập trung trí tuệ tập thể, phát huy dân chủ, chủ động đề ra 7chương trình công tác trọng tâm toàn khoá với 29 đề án, nghị quyết chuyên đề, trong đó đề ra những bước đi, mục tiêu, giải pháp thực hiện cụ thể, phân công trách nhiệm cho từng đồng chí uỷ viên Ban Thường vụ và các ngành phụ trách. Đến năm 2007 toàn bộ các đề án, nghị quyết chuyên đề được phê duyệt và có kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện đồng bộ trên phạm vi toàn tỉnh. 

 Trên cơ sở Nghị quyết và chương trình công tác trọng tâm của Tỉnh uỷ, các cấp ủy trực thuộc đều xây dựng nghị quyết chuyên đề và chương trình hành động thực hiện Nghị quyết một cách cụ thể, thiết thực, phù hợp với đặc điểm tình hình của từng địa phương, đơn vị và được Thường trực, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ trực tiếp nghe, cho ý kiến phê duyệt, nhằm tạo sự thống nhất giữa các ngành, các cấp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh.

B. Kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm.

I. Về kinh tế.

1. Thu ngân sách nhà nước tăng trưởng cao, phản ánh thực chất phát triển của nền kinh tế địa phương.

 - Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng trưởng với tỷ lệ cao. Sáu tháng đầu năm 2008 đạt 632,5 tỷ đồng, ước thực hiện cả năm 2008 đạt 1.200 tỷ đồng, đạt mục tiêu Đại hội đến năm 2010, gấp 1,8 lần so với năm 2005, tốc độ tăng thu bình quân 22,3%/ năm (riêng năm 2007 đạt 1.418,3 tỷ đồng do có sự đột biến về thu từ hoạt động xuất nhập khẩu). Thu từ nội địa ngày càng tăng (tốc độ tăng bình quân 16%), khẳng định rõ thực chất phát triển mạnh của nền kinh tế địa phương. Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu có những bước phát triển bứt phá (tốc độ tăng bình quân 27,4%/năm), khẳng định vai trò quan trọng của cửa khẩu Lào Cai trong tuyến hành lang biên giới Việt - Trung, đồng thời phản ánh sự phát triển toàn diện của Khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai trong những năm vừa qua.

- Công tác chi ngân sách đã đảm bảo phục vụ kịp thời cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là đã tập trung cho xoá đói, giảm nghèo, phát triển vùng cao, vùng kinh tế trọng điểm và ưu tiên cho giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, văn hoá... theo đúng định hướng của Trung ương (năm 2008 ước chi 3.074 tỷ đồng, tăng gấp 1,9 lần so với năm 2005, tốc độ tăng chi 16,5%/năm). Hàng năm, tỉnh dành 67% vốn ngân sách để đầu tư cho vùng cao, vùng dân tộc thiểu số, vùng nông thôn; dành trên 40% chi ngân sách thường xuyên cho phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo.

2. Thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước ngày càng tăng.

Tỉnh thực hiện nghiêm Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư; xóa bỏ những quy định ràng buộc không cần thiết trong thủ tục cấp giấy phép kinh doanh, cấp giấy chứng nhận đầu tư. Do đó, thu hút đầu tư đạt được nhiều kết quả quan trọng, đến nay toàn tỉnh hiện có 1.040 doanh nghiệp, với tổng số vốn đăng ký 5,2 nghìn tỷ đồng; 179 HTX đang hoạt động, với tổng số vốn điều lệ 77,9 tỷ đồng, thu hút trên 8,8 nghìn xã viên tham gia; 32 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 318,2 triệu USD; vốn ODA cam kết tài trợ giai đoạn 2008-2012 gần 52 triệu USD, chấp thuận mới 9 dự án NGO với tổng giá trị tài trợ trên 1,6 triệu USD. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Lào Cai hiện nay xếp thứ 5/64 tỉnh, thành.

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục phát triển ổn định.

Cấp ủy, chính quyền các cấp đã chỉ đạo thực hiện tốt các đề án, dự án về nông lâm nghiệp, thủy sản, phát triển nông thôn, nên giá trị sản xuất toàn ngành đạt mức tăng trưởng cao, bình quân là 7,27%/năm. Trong đó:

- Nông nghiệp phát triển toàn diện cả trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản.

 Tỉnh đã tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất: kiên cố hóa kênh mương, mở rộng thủy lợi, phát triển giao thông nông thôn..., đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ tư vấn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, cung ứng vật tư, hỗ trợ vốn tín dụng và đặc biệt tích cực sử dụng các giống cây trồng, vật nuôi mới, tiên tiến có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất. Chương trình giống cây trồng, vật nuôi bước đầu đã đạt kết quả quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng nông sản; hàng năm, có gần 90% diện tích lúa, ngô, đậu tương được gieo trồng các giống mới, năng suất cao; đã và đang hình thành các vùng thâm canh lúa, ngô, đậu tương, rau, quả hàng hoá, vùng chè. Nhiều giống cây, con có năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao được đưa vào sản xuất thử nghiệm và từng bước sản xuất đại trà, như giống hoa cao cấp, cây ăn quả ôn đới, cây dược liệu... Với những giải pháp tích cực, hiệu quả đó đã góp phần đưa năng suất cây trồng hàng năm tăng 1-4%; tổng sản lượng lương thực vụ đông xuân năm 2008 đạt gần 76 nghìn tấn, bằng 38% kế hoạch năm, ước hết năm 2008 đạt mục tiêu đại hội (200 nghìn tấn).

 Mặc dầu rét đậm, rét hại kéo dài đầu năm 2008, làm chết trên 18,7 nghìn con gia súc; song tỉnh đã chỉ đạo thực hiện tốt việc hỗ trợ cho các hộ dân khắc phục hậu quả, đồng thời triển khai nhiều biện pháp khôi phục, do đó, đàn gia súc tiếp tục phát triển  (bình quân hàng năm, đàn trâu tăng 6,4%, đàn bò  tăng 9,37%, đàn lợn tăng 3,38%), đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi theo qui mô công nghiệp, trang trại và tích cực áp dụng các biện pháp kỹ thuật. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2008 đạt 1,55 nghìn ha, tăng 370 ha so với năm 2005, sản lượng đạt 1,8 ngàn tấn, tăng bình quân 16,2%/năm, việc đưa vào xây dựng trại giống cấp I Phú Nhuận đã cơ bản đáp ứng nguồn giống thủy sản cho nhân dân. Giá trị sản phẩm trên 1 ha canh tác ước năm 2008 đạt 21 triệu đồng, tăng bình quân 14,36%/năm ( vượt mục tiêu đại hội 1 triệu đồng).

-Lâm nghiệp tiếp tục phát triển.

Tỉnh đã chỉ đạo tích cực đẩy mạnh trồng rừng tập trung theo các chương trình quốc gia, đặc biệt là chương trình trồng 5 triệu ha rừng. Kinh tế lâm nghiệp bước đầu phát triển mang tính toàn diện, phát triển rừng phòng hộ gắn với kinh tế, môi trường sinh thái và du lịch; từng bước hình thành vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; bảo tồn và phát triển thêm nhiều loài cây quý hiếm, một số cây trồng vừa có chức năng phòng hộ vừa có giá trị kinh tế đã được đưa vào sản xuất.  Đồng thời, thực hiện tốt việc quản lý, chăm sóc, khai thác, bảo vệ và phòng chống cháy rừng. Toàn tỉnh đã trồng được hơn 5,8 nghìn ha rừng tập trung. Tỷ lệ che phủ của rừng năm 2008 ước đạt mục tiêu ĐH (48%).

4. Công nghiệp - xây dựng phát triển mạnh.

 - Các đề án của Tỉnh ủy trên lĩnh vực này đã và đang phát huy hiệu quả, lợi thế; tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp- xây dựng bình quân đến 2008 đạt 20,18%/năm (gần đạt mục tiêu đại hội: 20,65%). Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển nhanh và đạt nhịp độ tăng trưởng cao, giá trị sản xuất ước năm 2008 đạt 1.102 tỷ đồng (giá so sánh năm 1994), tăng bình quân 24,96%/năm (gần đạt mục tiêu là 27,65%). Một số lĩnh vực công nghiệp mũi nhọn tiếp tục phát triển nhanh và đúng hướng theo mục tiêu Nghị quyết đề ra. Đến nay, một số dự án công nghiệp lớn đã đi vào hoạt động, như: Tổ hợp đồng Sin Quyền, Nhà máy luyện đồng, dự án khai thác mỏ sắt Quí Xa; trên 40 công trình thủy điện đã và đang khởi công, chuẩn bị đầu tư, một số nhà máy thủy điện đã hòa vào lưới điện quốc gia. Công tác qui hoạch phát triển các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện và đạt kết quả tốt.

   - Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về đất đai được tăng cường; công tác quản lý nhà nước về đất đai đạt được những tiến bộ quan trọng, ban hành mới một số văn bản qui định về quản lí sử dụng đất theo thẩm quyền của địa phương. Hoàn thành công tác qui hoạch đất tại các huyện, xã, phường, thị trấn trong tỉnh phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội đến 2010; có nhiều nỗ lực cải cách thủ tục hành chính trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu vực nông thôn và thành thị.

  - Công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản chuyển biến khá, hoàn thành qui hoạch phát triển thủy điện nhỏ và vừa, qui hoạch lưới điện; qui hoạch khoáng sản. Khai thác và sử dụng tài nguyên nước và khoáng sản ngày càng có hiệu quả hơn.Hoạt động bảo vệ môi trường được quan tâm chỉ đạo, bước đầu hạn chế sự gia tăng ô nhiễm môi trường tại các cụm công nghiệp tập trung và khu dân cư. Môi trường, sinh thái từng bước được cải thiện, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển bền vững.

- Huy động vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng mạnh (giai đoạn 2006-2008 đạt trên 10 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 26%/năm), nên tỉnh đã tập trung đầu tư mạnh cho phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn, nâng tỷ lệ xã có điện lưới lên 90%, tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh đạt 76%; 100% số xã, phường có trạm y tế, có trường học và có đường ô tô đến trung tâm. Tiến hành xây dựng một số khu tái định cư gắn liền với các khu công nghiệp; qui hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng các trung tâm cụm xã, thị trấn, thị tứ. Quốc lộ 70, QL4D đang được thi công nâng cấp, cải tạo, khởi động dự án đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai, dự án cải tạo đường sắt, mở rộng ga Lào Cai, chỉ đạo thi công cầu đường bộ biên giới Kim Thành hoàn thành vào cuối năm 2008.

 5. Thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục phát huy lợi thế.

 - Thị trường nội địa được khai thác có hiệu quả, lưu thông hàng hóa thông suốt, đáp ứng kịp thời hàng hóa, vật tư cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư và cho sản xuất. Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ tăng cao,  bình quân tăng 30,2%/năm. Triển khai thực hiện qui hoạch sắp xếp, nâng cấp và xây dựng mới một số chợ trên địa bàn, nhằm đưa hoạt động thương mại đi dần vào nề nếp, văn minh, sạch đẹp. Các dịch vụ ăn uống, dạy nghề, giới thiệu việc làm, khách sạn, nhà nghỉ, vận tải... phát triển khá nhanh theo nhu cầu phát triển các cụm công nghiệp, khu du lịch. Đã thực hiện nhiều biện pháp kiểm soát thị trường, bình ổn giá cả, song cùng với bối cảnh chung của cả nước, chỉ số giá bình quân 1 tháng trong năm trên địa bàn tăng 1,49%.

 - Kinh tế đối ngoại có nhiều chuyển biến tích cực: Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại và đầu tư, tổ chức nhiều đoàn đi học tập nghiên cứu, khảo sát, quảng bá thu hút đầu tư, mở rộng thị trường. Triển khai thực hiện Luật Hải quan và tích cực cải tiến các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất-nhập khẩu phát triển. Mặc dù quốc lộ 70 xuống cấp, đường sắt quá tải, nhưng kim ngạch xuất- nhập khẩu qua cửa khẩu Lào Cai vẫn đạt mức tăng trưởng bình quân khá. Cửa khẩu quốc tế Lào Cai ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong tuyến hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng. Tỉnh đang chỉ đạo triển khai thực hiện Qui chế hoạt động Khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

- Hoạt động du lịch có bước phát triển, các loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch văn hóa thôn, bản đang từng bước được đầu tư, mở rộng. Tập trung quản lý qui hoạch Sa Pa, đầu tư cho du lịch Bắc Hà và nâng cấp hệ thống nhà hàng, khách sạn và đầu tư khai thác các tuyến điểm du lịch theo qui hoạch. Do đó, du khách tới Lào Cai ngày một tăng, bình quân hàng năm là 15%; số khách lưu trú tăng 3,2%, số ngày lưu trú tăng 14%.

 - Hoạt động tín dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển nhanh, thực hiện tốt vai trò huy động vốn và cho vay vốn đầu tư phát triển kinh tế. Đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế trên địa bàn. Doanh số cho vay hàng năm tăng cao, số dư nợ tín dụng ngân hàng thời điểm 30/6/2008 đạt 4.900 tỷ đồng, tăng 8% so cuối năm 2007, đảm bảo duy trì thực hiện tốt cho vay vốn sản xuất đối với hộ nông dân, góp phần quan trọng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và nông thôn.

 -Dịch vụ vận tải, bưu chính- viễn thông, công nghệ thông tin tiếp tục phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn. Khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt mức tăng trưởng bình quân 12,7%/năm, hành khách tăng 11,5%/năm... Thông tin liên lạc được giữ vững và có bước phát triển vượt bậc, nhiều loại dịch vụ mới phục vụ tốt cho nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội và đời sống dân cư. Số máy điện thoại tăng nhanh, đến cuối năm 2007 đã đạt 28,9 máy/100 dân; việc ứng công nghệ thông tin được quan tâm triển khai, chỉ số mức độ sẵn sàng ứng dụng CNTT (Chỉ số ICT Index) năm 2007 xếp thứ 31/64 tỉnh thành.

- Công tác sắp xếp, đổi mới DNNN đảm bảo quy định. Hơn 2 năm qua, tỉnh đã chỉ đạo sắp xếp 11 đơn vị. Nhìn chung sau khi sắp xếp lại tổ chức và cổ phần hóa, hầu hết các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đều phát triển, hiệu quả kinh tế tăng lên rõ rệt, thu nhập người lao động trong doanh nghiệp được nâng lên.

Tồn tại, khuyết điểm trong phát triển kinh tế.

- Do chậm được cải tạo, nâng cấp hệ thống giao thông Hà Nội- Lào Cai, nên thu hút đầu tư chậm, bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tư có lợi cho đất nước, cho tỉnh. Quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé, huy động vốn đầu tư toàn xã hội chưa tương xứng với phát triển kinh tế; đặc biệt là xã hội hóa giáo dục, y tế còn hạn chế…việc đầu tư phát triển cho các công trình phúc lợi xã hội và môi trường còn nhiều yếu kém. Tiến độ xây dựng khu đô thị mới Lào Cai- Cam Đường chậm, có khả năng không hoàn thành mục tiêu.

- Tình hình tiêu thụ nông sản hàng hóa vẫn còn khó khăn, giá cả không ổn định nên hạn chế khả năng đầu tư chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo qui hoạch định hướng chung của nhà nước. Chi phí sản xuất nông nghiệp còn cao, dẫn đến hiệu quả sản xuất cũng như thu nhập của nông dân đạt thấp. Chương trình cây thuốc lá phát triển chậm.

           - Các doanh nghiệp của tỉnh nhìn chung chưa có chiến lược phát triển bền vững. Thiết bị công nghệ của doanh nghiệp ngành công nghiệp quá lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu tiến trình hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, cũng như yêu cầu đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn thấp; số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển rất nhanh, nhưng thiếu qui hoạch định hướng về ngành nghề, qui mô vốn, lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh còn hạn chế.

          - Các dịch vụ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế xã hội. Dịch vụ phục vụ yêu cầu cho hoạt động du lịch, cụm công nghiệp tập trung phát triển còn chậm.

          - Công tác qui hoạch, quản lý qui hoạch và quản lý xây dựng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; đặc biệt là quản lý qui hoạch đô thị thực hiện chưa tốt, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thực hiện thiếu đồng bộ và còn bất cập. Công tác quản lý đất đai, quản lý tài nguyên trên địa bàn có nơi chưa chặt chẽ, còn để xảy ra tình trạng khai thác, xây dựng không đúng qui định.

         - Vấn đề bảo vệ và cải thiện môi trường chưa được thực hiện tốt, nhất là quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên để đảm bảo phát triển bền vững. Tình trạng ô nhiễm môi trường từ khu công nghiệp Tằng Loỏng và các điểm khai thác khoáng sản còn xảy ra.

     II. Lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ ngày càng tiến bộ và thu được nhiều kết quả khả quan.

- Sự nghiệp giáo dục- đào tạo của tỉnh không ngừng phát triển theo hướng đa dạng hoá về loại hình, phương thức và nguồn lực, từng bước hội nhập với xu thế chung của nền giáo dục cả nước. Các ngành học, bậc học của tỉnh tiếp tục phát triển nhanh về qui mô trường lớp, học sinh. Chất lượng giáo dục toàn diện ở các ngành học, bậc học qua các năm được giữ vững và có những chuyển biến rõ rệt. Duy trì và nâng cao tính bền vững phổ cập tiểu học đúng độ tuổi; đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS tháng 12/2007đúng tiến độ. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 97,12%. Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, phong trào nội trú dân nuôi phát triển rộng khắp.  Mạng lưới cơ sở đào tạo, dạy nghề của tỉnh tiếp tục được điều chỉnh, củng cố.

- Chú trọng công tác giải quyết việc làm cho người lao động, giảm nhanh tỷ lệ thất nghiệp, ổn định cuộc sống cho người dân là một trong những mục tiêu quan trọng từ đầu nhiệm kỳ đến nay. Kết quả bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho trên 7 ngàn người, nhờ đó tỷ lệ lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị giảm còn 1,61%, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn đạt 75%. Quan tâm đúng mức tới công tác đào tạo nghề cho người lao động, đào tạo năng khiếu cho họat động văn hoá, thể thao, du lịch của tỉnh.

- Công tác xóa đói giảm nghèo được xác định là nhiệm vụ hàng đầu, nên tỉnh đã tập trung đầu tư và thực hiện có hiệu quả, giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 5,7%/năm, hiện nay còn 24,57% (mục tiêu ĐH 20%). Mức sống dân cư trên địa bàn tăng đáng kể qua các năm, thu hẹp dần khoảng cách đời sống dân cư thành thị và nông thôn. Tỷ lệ hộ hộ nông thôn sử dụng điện 66%, tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh 75% (đạt mục tiêu ĐH), đường liên thôn bản 80% (gần đạt mục tiêu ĐH), tỷ lệ hộ được nghe đài 75%, được xem truyền hình 61%, có khoảng 41% số hộ có nhà kiên cố, bán kiên cố, 45% hộ có xe máy, 67% hộ có ti vi, nhân dân yên tâm lao động sản xuất, ổn định cuộc sống.

- Hoạt động y tế, bảo vệ chăm sóc sức khoẻ cho người dân có nhiều chuyển biến tích cực. Mạng lưới y tế, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ và đội ngũ cán bộ y tế không ngừng phát triển, cơ bản đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân. Đến nay, có 31% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, thấp hơn nhiều so với mục tiêu ĐH. Do thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, y tế cộng đồng, nên một số dịch bệnh nguy hiểm đã được hạn chế rất nhiều so với trước. Công tác bảo vệ bà mẹ, trẻ em và dân số kế hoạch hóa gia đình đạt được kết quả tích cực; 97,5% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ước 2008 còn 28,3% (gần đạt mục tiêu ĐH); công tác dân số kế hoạch hóa gia đình thường xuyên được các cấp, các ngành và địa phương quan tâm thực hiện, hạn chế dần tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, ước năm 2008 còn  1,47% (gần đạt mục tiêu ĐH).

- Hoạt động thông tin tuyên truyền tiếp tục được đổi mới nội dung và hình thức; kịp thời cổ động, tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, của tỉnh; tuyên truyền phổ biến kịp thời các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người dân. Phòng trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" thu được nhiều kết quả, bộ mặt nông thôn có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực.  Phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng khá sôi nổi, thu hút nhiều đối tượng tham gia. Số người tham gia luyện tậpthể dục thể thao thường xuyên chiếm 19% dân số toàn tỉnh. Thể thao thành tích cao gặt hái được nhiều thành công, ngày càng dần khẳng định mình trong đấu trường khu vực và xóa được "Điểm trắng" về thể thao thành tích cao trên bản đồ Thể thao Việt Nam.

- Hoạt động khoa học và công nghệ tập trung nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao các kỹ thuật tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất và đời sống của nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn miền núi, xóa đói giảm nghèo, nâng mức sống của người dân .

Tồn tại, khuyết điểm trong lĩnh vực văn hóa, xã hội:

- Chất lượng giáo dục toàn diện chưa đáp ứng yêu cầu; sự chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các vùng còn lớn; tiến độ xây dựng trường chuẩn quốc gia chậm.Chưa có sự chuyển dịch rõ nét cơ cấu lao động giữa các ngành. Đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của các ngành sản xuất kinh doanh, đặc biệt là ngành công nghiệp.

- Tỷ lệ đói nghèo còn cao, độ bền vững của công tác xóa đói giảm nghèo thấp, nhất là nguy cơ tái nghèo do ảnh hưởng bão số 4, lạm phát, tăng giá. Đời sống của một bộ phận dân cư ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc, khu tái định cư còn khó khăn, do thu nhập thấp, nghề nghiệp không ổn định, thiếu việc làm... Chênh lệch đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân thành thị và nông thôn trong tỉnh còn khá lớn.

- Chất lượng Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" chưa cao, năm 2007, tỷ lệ hộ gia đình văn hóa đạt 61% (mới đạt 76% mục tiêu ĐH). Thiết chế văn hoá cơ sở nghèo nàn, các thế mạnh thể thao dân tộc chưa được khai thác nhiều. Cải tạo phong tục tập quán lạc hậu chưa mạnh, kết quả còn hạn chế. Nếp sống văn minh đô thị đổi mới chậm.

- Chất lượng dịch vụ y tế còn bất cập so với nhu cầu ngày càng cao của nhân dân; tiến độ xây dựng xã đạt chuẩn y tế  còn chậm.

III. Quan hệ đối ngoại được mở rộng. Công tác cải cách tư pháp, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có nhiều chuyển biến tích cực.     

- Hoạt động đối ngoại có bước tiến mới. Quan hệ với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) ngày càng toàn diện, mang tính thiết thực và đi vào chiều sâu; đồng thời, mở rộng quan hệ với vùng Tây Nam (Trung Quốc), với Hội đồng vùng Aquitaine Cộng hòa Pháp. Quan hệ với các vùng, lãnh thổ, các tổ chức quốc tế, các Đại sứ quán và với các tỉnh, thành phố trong cả nước được duy trì và ngày càng mở rộng. Uy tín của tỉnh đối với các nhà tài trợ, các Bộ, ngành TW ngày càng nâng cao. Phối hợp tổ chức thành công Hội nghị giữa kỳ các nhà tài trợ cho Việt Nam tại Sa Pa.

- Công tác cải cách tư pháp được cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo; việc thực hiện dần đi vào nền nếp, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp. Chất lượng điều tra, truy tố xét xử, thi hành án được nâng cao. Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân được cải tiến và kịp thời, hạn chế tình trạng khiếu kiện vượt cấp. Tiến hành củng cố, kiện toàn tổ chức cơ quan tư pháp và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ pháp luật. Từng bước củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ luật sư. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được chú trọng; sự hiểu biết và thực hiện pháp luật trong nhân dân được nâng lên đáng kể.

- Công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả bước đầu. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho cán bộ công chức được triển khai sâu rộng dưới nhiều hình thức cụ thể, thiết thực. Vai trò, trách nhiệm của toàn xã hội trong công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được phát huy. Cùng với việc coi trọng các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, công tác kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được tăng cường, một số vụ tham nhũng được phát hiện, xử lý kịp thời được dư luận xã hội đồng tình ủng hộ. Tỉnh ủy đã và đang chỉ đạo phối hợp xét xử vụ buôn lậu lá thuốc lá xảy ra trên địa bàn theo đúng quy định của pháp luật.

Tồn tại, khuyết điểm trong lĩnh vực nội chính:

Một số cấp ủy, chính quyền chưa thực sự coi trọng việc phát triển kinh tế kết hợp với củng cố quốc phòng – an ninh. Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới. Công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, tội phạm (trong đó có tội phạm kinh tế), tai nạn, tệ nạn xã hội hiệu quả chưa cao, xuất hiện một số loại tội phạm mới, nguy hiểm. Các vụ án nghiêm trọng do nguyên nhân xã hội có chiều hướng gia tăng. Sự phối hợp, kết hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng có việc chưa chặt chẽ, đặc biệt là trong phát hiện, điều tra, giải quyết các vụ án trọng điểm còn chậm, gây bức xúc trong nhân dân. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ở một số cơ sở chưa tốt, nên vẫn còn tình trạng đùn đẩy lên cấp trên, đơn thư khiếu nại vượt cấp. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật hiệu quả chưa cao. Một bộ phận nhân dân các dân tộc trong tỉnh, đặc biệt là ở vùng cao, còn thiếu hiểu biết về pháp luật. Quản lý hộ tịch, hộ khẩu còn phiền hà, lề lối làm việc của một số cán bộ, công chức chậm được đổi mới, không nắm chắc và kịp thời tình hình dân bỏ đi khỏi địa phương (di cư tự do, ra nước ngoài lấy chồng, hoạt động phi pháp..).

Đội ngũ cán bộ am hiểu về luật pháp và kinh nghiệm về quan hệ quốc tế  còn hạn chế và bất cập. Một số cơ quan, đơn vị chưa chủ động phối hợp thực hiện tốt công tác đối ngoại.

IV. Hệ thống chính trị được xây dựng, củng cố ngày càng trong sạch, vững mạnh; nội dung, phương thức hoạt động hướng mạnh về cơ sở, tạo sự đồng thuận xã hội.

          Các cấp ủy đảng đã triển khai, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết TW5 khóa X về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực quản lý nhà nước và 3 nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy khóa XIII.

Việc quán triệt, học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, những hoạt động giáo dục về truyền thống cách mạng, tuyên truyền các ngày lễ, ngày kỷ niệm lớn hàng năm.v.v, đều được triển khai sâu rộng rãi trong toàn Đảng bộ và nhân dân.  Cấp uỷ các cấp đã tập trung lãnh đạo xây dựng, củng cố, kiện toàn các chi, đảng bộ cơ sở.

Công tác kiểm tra, giám sát được chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm; công tác kỷ luật của Đảng được chú trọng, góp phần quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Cấp uỷ các cấp đã xây dựng được chương trình công tác kiểm tra, giám sát toàn khóa và hàng năm; từ đó tổ chức triển khai thực hiện thường xuyên, hiệu quả; đồng thời thực hiện nghiêm túc các văn bản hướng dẫn, quy định của Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và các chương trình kiểm tra theo chỉ đạo của Trung ương.

         Tỉnh đã ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc thiểu số; ban hành chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, ưu tiên bố trí và sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị các cấp. Đến nay, cán bộ là người dân tộc thiểu số chiếm 18% tổng số cán bộ, công chức, viên chức toàn tỉnh; đảng viên là người dân tộc thiểu số chiếm 36,2% tổng số đảng viên của toàn Đảng bộ. Việc biểu dương người tiêu biểu trong đồng bào các dân tộc, vai trò của già làng, trưởng bản, bồi dưỡng nhân rộng điển hình tiên tiến được thực hiện thường xuyên, động viên nhân dân tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước do Trung ương và tỉnh phát động.

7. Chỉ đạo tổ chức thành công bầu cử Quốc hội khóa XII trên địa bàn tỉnh an toàn, trật tự, đúng luật, tỷ lệ cử tri đi bầu đạt cao( 99,97%). Sự phối hợp hoạt động giữa HĐND với UBND tỉnh nhịp nhàng, hiệu quả, đảm bảo nguyên tắc, đúng luật. Hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh và của HĐND các cấp, đặc biệt là của HĐND tỉnh trong những năm qua đã thực sự có hiệu quả. Nội dung giám sát đã tập trung vào những vấn đề bức xúc, thiết thực. HĐND tỉnh đổi mới về quy trình chuẩn bị tài liệu, nâng cao chất lượng văn bản, chất lượng chất vấn và trả lời chất vấn; triển khai kiểm điểm giữa nhiệm kỳ của HĐND, UBND. Tổ chức tốt các cuộc tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp để lắng nghe ý kiến của cử tri; thực hiện tốt vai trò là người đại diện cho nhân dân.

        UBND các cấp đã hoàn thành tốt vai trò chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, chủ động đổi mới phương thức chỉ đạo theo hướng hiệu lực và hiệu quả. UBND tỉnh đã sáng tạo tìm ra nhiều giải pháp tích cực nhằm tháo gỡ  khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện; triển khai có hiệu quả những chủ trương của Tỉnh uỷ, huy động được nhiều nguồn lực từ các địa phương, các ngành, các thành phần kinh tế đầu tư phát triển cho tỉnh. Tăng cường phân cấp để huyện năng động, xã chủ động.

         Công tác Cải cách hành chính có những chuyển biến tích cực, nhất là việc áp dụng cơ chế "một cửa"; nhiều thủ tục hành chính và quy trình giải quyết được đổi mới hợp lý, khoa học, giảm phiền hà cho dân. Tổ chức bộ máy của các ngành, các cấp chính quyền từng bước được cũng cố, kiện toàn theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.

Tồn tại, khuyết điểm trong lĩnh vực xây dựng hệ thống chính trị:

Một số cấp ủy, chính quyền, đoàn thể chưa coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; việc triển khai nghiên cứu quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng có nơi còn hình thức, chưa xây dựng được chương trình hành động thực hiện nghị quyết của cấp trên một cách thiết thực. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng ở một số nơi còn hạn chế, còn biểu hiện lúng túng trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành giải quyết các vụ việc phức tạp, phát sinh; vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị của các chi bộ dưới cơ sở còn mờ nhạt. Một số tổ chức đảng và đảng viên còn thiếu tính tiền phong gương mẫu, thiếu tính chiến đấu, còn nể nang, né tránh trước các biểu hiện tiêu cực; tình trạng tham nhũng, lãng phí, vi phạm Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước vẫn còn xảy ra. Một bộ phận cán bộ chưa tích cực đổi mới phong cách và lề lối làm việc, còn biểu hiện nói nhiều, làm ít. Công tác đấu tranh chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hiệu quả chưa cao. Hình thức tổ chức, nội dung sinh hoạt ở một số chi bộ chưa linh hoạt, hấp dẫn, thiết thực. Sự phối hợp quản lý và kiểm tra đảng viên thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú chưa đảm bảo yêu cầu theo Quy định 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị. Công tác vận động quần chúng nhiều nơi còn yếu, phương pháp vận động chưa phù hợp.

         C. Đánh giá tổng quát

         1. Về thành tựu:

           Với những chủ trương, quan điểm, định hướng đúng đắn và phù hợp của Tỉnh ủy; sự năng động, sáng tạo trong công tác chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh; sự quyết tâm phấn đấu nỗ lực của các cấp, các ngành, của nhân dân trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị, lồng gắn chặt chẽ với 7 chương trình trọng tâm 29 đề án Nghị quyết, chuyên đề của Tỉnh ủy ; sự quyết tâm thực hiện mục tiêu xây dựng tỉnh Lào Cai trở thành “điểm sáng” nơi biên cương phía Bắc Tổ quốc; nên chỉ mới qua hai năm rưỡi thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2005-2010, bức tranh kinh tế xã hội của tỉnh tiếp tục khởi sắc. Đến nay, trong 20 chỉ tiêu lớn của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIII, có 10 chỉ tiêu đã đạt và vượt (trong đó có 2 chi tiêu hoàn thành do ảnh hưởng trượt giá, lạm phát: GDP bình quân đầu người và giá trị sản xuất trên 1ha canh tác), 7 chỉ tiêu gần đạt, dự kiến sẽ đạt mục tiêu vào năm 2010, còn 3 chỉ tiêu lớn (cơ cấu GDP, tỷ lệ gia đình văn hóa, tỷ lệ hộ xem truyền hình) và một vài chỉ tiêu hợp phần (như: chuyển khu hành chính tỉnh về đô thị mới, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế, giải quyết việc làm.), nếu không phấn đấu quyết liệt sẽ không đạt mục tiêu đến 2010.

          Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức cao, GDP tăng bình quân 12,85%/năm (gần đạt mục tiêu ĐH); GDP bình quân đầu người (giá hiện hành) đạt 10,65 triệu đồng - tương đương 645 USD (vượt mục tiêu ĐH). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, hiện nay, tỷ trọng trong GDP của nông, lâm nghiệp chiếm 34,53%, công nghiệp-xây dựng 30,36%, dịch vụ 35,11% (mục tiêu tương ứng: 27,90%- 34,10% - 38,00%). Nội lực được phát huy, đi đôi với khai thác có hiệu quả các lợi thế, tiềm năng cho phát triển. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tiên tục tăng trưởng ở mức cao, tăng bình quân 22,8%/năm, về trước mục tiêu đại hội 3 năm. Sản xuất nông, lâm nghiệp, công nghiệp và hoạt động dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng cao so với mức tăng chung của cả nước. Đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo đói giảm nhanh hiện còn 24,57%. Các hoạt độngvăn hóa, xã hội ngày càng được quan tâm phát triển, các tệ nạn xã hội từng bước được ngăn chặn, đẩy lùi, đời sống dân cư ngày càng được cải thiện, nâng cao. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, quan hệ đối ngoại được mở rộng. Hệ thống chính trị được xây dựng, củng cố ngày càng trong sạch, vững mạnh; tạo được sự đồng thuận xã hội; nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng bộ.

 2.Một số tồn tại, khuyết điểm đáng quan tâm, đó là:

 Kết cấu hạ tầng đã được đầu tư từ nhiều năm trước, nay đã xuống cấp nghiêm trọng, nhất là hệ thống đường giao thông. Việc triển khai thực hiện 7 chương trình công tác trọng tâm toàn khóa với 29 đề án, nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy ở một số địa phương, đơn vị còn chậm và lúng túng; việc ban hành cơ chế, chính sách để thực hiện chưa kịp thời. Còn nhiều yếu kém trong công tác quản lý, điều hành phát triển kinh tế- xã hội, nhất là trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đền bù, giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư; giải quyết công ăn việc làm cho đồng bào vùng tái định cư.v.v.. Độ bền vững của công tác xoá đói, giảm nghèo chưa cao, nguy cơ tái nghèo lớn. Trình độ dân trí nhìn chung còn thấp, không đồng đều giữa các vùng, các dân tộc. Một số phong tục tập quán lạc hậu còn nặng nề; vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào Đảng và Nhà nước. Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao.

         Tình hình lợi dụng Tôn giáo truyền đạo trái pháp luật, kích động di dân tự do, phụ nữ bỏ nhà ra nước ngoài lấy chồng bất hợp pháp và tình trạng buôn bán, vận chuyển sử dụng ma tuý, tai nạn giao thông, tội phạm chưa giảm. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng ở một số nơi còn hạn chế, triển khai quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng chưa tốt. Một số tổ chức đảng và đảng viên còn thiếu tính tiền phong gương mẫu, thiếu tính chiến đấu, còn nể nang, né tránh trước các biểu hiện tiêu cực; tình trạng tham nhũng, lãng phí, vi phạm Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước vẫn còn xảy ra...  

           D. Nguyên nhân, một số kinh nghiệm bước đầu.

I. Nguyên nhân thành công.

         1. Đảng bộ tỉnh đã năng động, sáng tạo và quyết tâm cao trong việc vận dụng, thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng vào điều kiện thực tế của địa phương; có cách làm chương trình, đề án hợp lý; xác định đúng những lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm, những tiềm năng, thế mạnh, những khâu đột phá và có bước đi phù hợp. Ban hành được nhiều nghị quyết, chính sách thúc đấy sự phát triển.

2. Ban Thường vụ, Ban Chấp hành dự tính, dự báo tình hình sát thực, từ đó chủ động trong lãnh đạo, chỉ đạo. Đảng bộ luôn giữ được truyền thống đoàn kết thống nhất cao. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng và quy chế dân chủ cơ sở, phát huy được sức mạnh đoàn kết của nhân dân các dân tộc, các lực lượng xã hội.

3. Luôn nhậnđược sự ủng hộ, giúp đỡ của Trung ương Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, các tỉnh, thành, các tổ chức, các doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Quan hệ đối ngoại luôn rộng mở, có cơ chế chính sách thông thoáng thu hút đầu tư.

4. Cấp ủy, chính quyền các cấp không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; quan tâm, sâu sát cơ sở, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo và tính chủ động công tác của đội ngũ cán bộ cơ sở..

5. Thường xuyên phát động các phong trào thi đua yêu nước, phát huy có hiệu quả công tác thi đua khen thưởng, tạo ra được động lực mạnh mẽ, huy động toàn đảng bộ, toàn dân tích cực lao động sản xuất, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật nâng cao chất lượng công tác.

II. Nguyên nhân tồn tại, khuyết điểm.

1.Nguyên nhân khách quan.

- Đường sắt, đường bộ đến Lào Cai chậm được cải tạo, nâng cấp, làm nản lòng các nhà đầu tư. Tình hình giá vật tư hàng hóa leo thang, tình hình lạm phát Chính phủ thắt chặt tiền tệ ảnh hưởng lớn đến tốc độ phát triển kinh tế, tiến độ xây dựng cơ bản.

- Xuất phát điểm của nền kinh tế trong tỉnh thấp so với mặt bằng chung của cả nước; nhận thức của nhân dân về sản xuất hàng hóa còn hạn chế, thiếu vốn, thiếu cơ chế  phù hợp với điều kiện của một tỉnh vùng cao, biên giới.

- Thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, gây thiệt hại lớn về sản xuất, người và tài sản nhân dân, làm cho đời sống của một bộ phận đồng bào càng thêm khó khăn.

- Các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, gây tình hình phức tạp trên địa bàn, ảnh hưởng đến an ninh ở cơ sở .

          2. Nguyên nhân chủ quan.

          - Trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ ở một số nơi, nhất là ở cơ sở, còn hạn chế; việc cụ thể hóa nghị quyết ở một số nơi còn lúng túng, nhất là trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Việc xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch và một số đề án, dự án thuộc 29 đề án, nghị quyết của tỉnh chưa sát với thực tế, hiệu quả một số đề án, dự án đã đầu tư chưa cao, tiến độ thực hiện một số dự đầu tư chậm do thủ tục phức tạp, thiếu vốn và cán bộ thiếu kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Hệ thống chính quyền các cấp có lúc vận hành chưa nhịp nhàng, hạn chế hiệu quả thực hiện nghị quyết của cấp ủy.

 - Đội ngũ chuyên gia đầu ngành của tỉnh còn mỏng, nhất là chuyên gia trong những lĩnh vực mũi nhọn, trọng yếu của địa phương.Quy mô sản xuất hàng hoá nhỏ bé, công nghệ sản xuất lạc hậu, chất lượng lao động và nguồn nhân lực còn thấp, chưa cập với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chất lượng hoạt động xúc tiến thương mại hạn chế; nhiều sản phẩm hàng hóa chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường.

- Một bộ phận nhân dân do trình độ thấp, thiếu hiểu biết, nên thực hiện không đúng chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước, bị kẻ xấu dụ dỗ, lôi kéo tham gia các hoạt động phi pháp.

III. Một số kinh nghiệm bước đầu:

1. Nghiêm túc trong việc tiếp thu, quán triệt và vận dụng sáng tạo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, để cụ thể hóa thành những cơ chế, chính sách của tỉnh phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, phù hợp với nguyện vọng và tạo sự tin tưởng, phấn khởi của nhân dân các dân tộc. Phải biết chọn những lĩnh vực, những khâu đột phá để tập trung mọi nguồn lực thực hiện thắng lợi sẽ tạo ra nhữngchuyển biến một cách toàn diện.

2. Phát huy những thành tựu của giai đoạn trước. Phát huy nội lực, lợi thế so sánh, tận dụng khai thác các thế mạnh của địa phương; đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ từ bên ngoài, chủ động vươn lên. Quan tâm mở rộng quan hệ đối ngoại, đặc biệt là với tỉnh vân Nam Trung Quốc, tranh thủ mọi nguồn lực để phát triển.

3. Thực hiện phương châm phát triển cân đối giữa kinh tế với xã hội, kinh tế với quốc phòng, an ninh, vừa chăm lo cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân, vùng cao, vùng dân tộc thiểu số, vừa đẩy mạnh khai thác lợi thế, đầu tư công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa. Phải thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng gần dân, sát cơ sở, nghe được dân nói, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, giải quyết kịp thời những vấn đề mới nảy sinh. Chăm lo công tác thi đua, khen thưởng, nhân rộng mô hình, điển hình tiên tiến; đi đôi với đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

4. Phải thường xuyên chăm lo công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị các cấp trong sạch, vững mạnh, đáp ứng với nhiệm vụ hiện nay. Luôn luôn coi trọng xây dựng sự đoàn kết, nhất trí cao trong Đảng bộ, trong nhân dân các dân tộc, tập hợp lực lượng, làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phát triển đảng viên, trong đó chú trọng tới đối tượng là người dân tộc thiểu số, là nữ ở những nơi vùng sâu, vùng xa.

5. Chú trọng nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài để có đội ngũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực hiện tốt chính sách và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ.              

                                                    PHẦN II

                     Phương hướng, nhiệm vụ từ nay đến năm 2010

A. Dự báo tình hình

Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Thêm vào đó tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, kéo theo thiên tai, dịch bệnh khó lường. Độ bền vững của tăng trưởng kinh tế chưa cao; tích lũy nội bộ nền kinh tế- xã hội của tỉnh thấp; vẫn còn là tỉnh nghèo; trình độ dân trí chưa cao, nhiều tập tục lạc hậu chưa được cải thiện; khó khăn về tăng giá, lạm phát, đặc biệt là hậu quả nặng nề của cơn bão số 4, sẽ còn ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất và đời sống nhân dân. Chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế; đội ngũ cán bộ, nhất là ở cơ sở còn nhiều bất cập trước tình hình nhiệm vụ mới...

Tuy vậy, những thuận lợi, thời cơ đã đến với Lào Cai, vẫn tiếp tục phát huy. Những thành tựu 100 năm xây dựng, phát triển của tỉnh Lào Cai, nhất là những kết quả đỉnh cao năm 2007 đã tạo thế và lực mới cho quá trình phát triển. Đảng và Chính phủ tiếp tục có những chủ trương, cơ chế đặc thù ưu tiên, tập trung đầu tư cho phát triển vùng cao, miền núi, vùng biên giới Tây Bắc còn nhiều khó khăn. Đặc biệt, Trung ương đã và đang chỉ đạo triển khai dự án đường cao tốc Nội Bài- Lào Cai, sân bay Lào Cai, cải tạo đường sắt Hà Nội- Lào Cai; những quyết định của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động của khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai và  phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Lào Cai đến năm 2020; nhiều dự án lớn về khai thác, chế biến khoáng sản, xây dựng thủy điện đã và đang được triển khai, trong đó, một số dự án hoàn thành đi vào hoạt động, bước đầu có đóng góp cho ngân sách.v.v..Tất cả đã và đang mở ra cho Lào Cai nhiều triển vọng tốt đẹp. Đó là những động lực quan trọng thúc đẩy quá trình thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiêm kỳ 2005-2010.

B. Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu từ nay đến năm 2010.

 I. Phương hướng.

Giữ vững, đẩy mạnh và phát triển bền vững đối với những mục tiêu đã đạt và vượt, nhằm tạo đà cho giai đoạn sau.

Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp, tích cực tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nhằm đẩy nhanh tiến độ, thực hiện thắng lợi những mục tiêu gần đạt và cơ bản hoàn thành đối với những mục tiêu khó đạt.

II. Tập trung phát triển kinh tế bền vững.

1. Phát triển nông nghiệp, nông thôn.

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các đề án, dự án đã có của tỉnh về phát triển nông nghiệp, nông thôn; đồng thời nhanh chóng triển khai thực hiện NQTW7 khóa X và chương trình hành động của Tỉnh ủy, từng bước công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nội ngành theo hướng khai thác lợi thế của các địa phương. Tập trung khắc phục hậu quả do bão số 4 gây ra.

- Đẩy mạnh thâm canh và áp dụng khoa học kỹ thuật, giống mới để tăng năng suất, sản lượng. Phát triển sản xuất giống lúa lai, ngô lai, đồng thời chủ động nguồn để cung ứng đầy đủ kịp thời giống, phân bón, thuốc trừ sâu cho nhân dân. Tập trung phát triển vùng chuyên canh sản xuất tập trung lớn, chú ý các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao ở các địa bàn có ưu thế tự nhiên. Tăng cường việc ứng dụng các kỹ thuật sơ chế, bảo quản để nâng cao chất lượng. Xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm, mở rộng các hình thức liên kết trong sản xuất, xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường.

- Nhanh chóng khôi phục đàn gia súc trên địa bàn. Tiếp tục phát triển ngành chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc.

- Tăng cường công tác bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng hệ sinh thái rừng, nguồn gen quý hiếm. Phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, quy mô hợp lý; nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế rừng; ưu tiên phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng, kết hợp với với rừng cảnh quan, môi trường, vùng rừng có khả năng sinh thủy. Gắn trồng rừng sản xuất với cơ sở chế biến để nâng cao năng suất, chất lượng rừng.

- Mở rộng diện tích nuôi thuỷ sản, nâng cao hiệu quả của Trại giống thuỷ sản cấp I và các cơ sở sản xuất giống khác trên địa bàn để chủ động cung ứng giống thuỷ sản tốt, phù hợp cho nhu cầu của nhân dân. Tăng cường phổ biến, nhân rộng các mô hình nuôi thuỷ sản có hiệu quả.

 - Tăng cường công tác chỉ đạo và điều hành sản xuất, kiểm soát an toàn thực phẩm, điều chỉnh cơ cấu mùa vụ nhằm phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh. Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống khuyến nông, thú y, cung ứng vật tư ở cơ sở. Tích cực triển khai Quyết định số 80/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng. Đẩy mạnh thực hiện quy hoạch sản xuất gắn với sắp xếp ổn định dân cư. Tăng cường hỗ trợ khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống; khuyến khích các hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đáp ứng nhu cầu tại chỗ và khách du lịch. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh tế nông nghiệp, nhất là hợp tác xã. Đầu tư phát triển và nâng cấp kết cấu hạ tầng nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống.

2. Phát triển công nghiệp

- Nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế, chú trọng phát triển sản phẩm công nghiệp có giá trị kinh tế cao.

- Triển khai thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Tập trung đầu tư hòan chỉnh cơ sở hạ tầng tại các cụm công nghiệp hiện có, thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư sản xuất tại các khu công nghiệp. Tăng cường quản lý, khai thác, chế biến khoáng sản, ưu tiên các dự án chế biến sâu, hạn chế xuất quặng thô.

- Tích cực giải quyết các khó khăn về mặt bằng, vốn để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án công nghiệp lớn trên địa bàn, như Nhà máy gang thép Việt- Trung, nhà máy DAP số 2, nhà máy tuyển quặng Apatít Bắc Nhạc Sơn,.v.v..

- Đẩy mạnh việc cải tiến kỹ thuật, công nghệ và quản lý để hạ giá thành sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Từng bước triển khai áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng, quản lý môi trường tiên tiến.

3. Đầu tư phát triển

- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững, trong đó cần tập trung nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm, chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm bảo đảm chất lượng của công trình, chống thất thoát, lãng phí. Tập trung đầu tư để hoàn thành kế hoạch chuyển các cơ quan hành chính cấp tỉnh về khu hành chính mới; phối hợp với các Bộ, ngành TW, chủ đầu tư để giải phóng mặt bằng, xây dựng tái định cư và thi công các dự án giao thông trọng điểm: cải tạo quốc lộ 70, xây dựng đường cao tốc Nội Bài- Lào Cai, cải tạo đường sắt Hà Nội -  Lào Cai,...Tập trung chỉ đạo thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, phấn đấu đạt mục tiêu đề ra.

- Triển khai xây dựng quy hoạch tổng hợp về tài nguyên nước trên địa bàn, gắn quy hoạch phát triển nguồn nước với việc bảo vệ và phát triển rừng, tái tạo lại nguồn nước. Đẩy mạnh công tác lập và phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trọng tâm là cấp cơ sở.

- Khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn. Tiếp tục triển khai đo đạc bản đồ địa chính nhằm phục vụ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều tra thăm dò địa chất khoáng sản...

- Tăng cường đầu tư cho quy hoạch, sắp xếp dân cư, di dời dân ra khỏi vùng có nguy cơ sạt lở, lũ ống, lũ quét, nhằm hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra.

- Tăng cường cơ sở vật chất, máy móc thiết bị cho mạng lưới trạm khí tượng thuỷ văn nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin về khí tượng thuỷ văn, về khí hậu và biến đổi khí hậu phục vụ phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, khai thác hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

- Tổ chức thực hiện tốt Luật Bảo vệ môi trường, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 41/NQ-TW của Bộ Chính trị.Yêu cầu bắt buộc việc đánh giá tác động môi trường đối với các dự án lớn về công nghiệp, thuỷ điện. Tăng cường năng lực quản lý và hoạt động của hệ thống quan trắc môi trường trên địa bàn.

- Tiếp tục thực hiện sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo Đề án được duyệt đến năm 2010. Phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế, trong đó chú trọng phát triển thành phần kinh tế dân doanh; chuyển đổi, khuyến khích thành lập mới hợp tác xã, nâng cao hiệu quả hoạt động và đóng góp của kinh tế tập thể vào tăng trưởng kinh tế.

- Thực hiện tốt Quyết định số 46/2008/QĐ-TTg ngày 31/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai đến năm 2020. Tiếp tục thực hiện rà soát lại trình tự, thủ tục đầu tư, đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là thủ tục hành chính, làm tốt công tác đền bù giải phòng mặt bằng, tăng cường thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là đối với các khu kinh tế trọng điểm của tỉnh. Đồng thời, tăng cường quản lý dự án đầu tư của doanh nghiệp trên địa bàn, để đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa dự án đi vào hoạt động.

4. Phát triển dịch vụ

- Tập trung phát triển Khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai, nhanh chóng đưa Khu thương mại - công nghiệp Kim Thành vào hoạt động theo qui chế ban hành tại Quyết định 44/2008/QĐ-TTg.

- Tập trung phát triển mạnh các ngành dịch vụ có thế mạnh, lợi thế, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân. Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong quá trình điều hành thị trường nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các tình huống để đảm bảo cung - cầu, kiềm chề giá.

- Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ trong xuất- nhập khẩu, du lịch, dịch vụ tài chính… Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến thương mại, chú trọng đến việc nghiên cứu và dự báo thị trường, đặc biệt là thị trường Vân Nam để đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ qua các cửa khẩu của tỉnh.

- Tập trung nâng cao năng lực vận tải cả về số lượng, chất lượng phương tiện vận chuyển hàng hoá, hành khách. Tăng cường các giải pháp đảm bảo an toàn giao thông, kiềm chế tai nạn giao thông. Phát triển và thúc đẩy ngành dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm.

5. Tài chính, tín dụng

- Tiếp tục đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư, khai thác có hiệu quả nguồn thu từ các vùng, lĩnh vực có thế mạnh của địa phương. Xây dựng các biện pháp chống thất thu ngân sách.

- Phát triển mạnh thị trường tín dụng, tập trung vốn cho các dự án có hiệu quả, các lĩnh vực khuyến khích, các dự án thực hiện 29 đề án, nghị quyết của Tỉnh ủy. Động viên thu hút rộng rãi các nguồn vốn xã hội để đầu tư cho phát triển dịch vụ công. Giao quyền tự chủ đầy đủ về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp.

       - Tiếp tục thực hiện tốt các biện pháp kiềm chế lạm phát theo chỉ đạo của Chính phủ.

III. Chăm lo phát triển văn hóa, đảm bảo an sinh xã hội.            

- Duy trì, củng cố kết quả phổ cập GDTHCS và nâng cao dần chất lượng dạy học. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục, thực hiện có hiệu quả chương trình kiên cố hoá trường lớp, học giai đoạn 2; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin  trong giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục mầm non. Tăng cường các hình thức đào tạo tại chỗ và liên kết đào tạo trong, ngoài nước.

- Chú trọng đào tạo nghề nhằm tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo, đáp ứng được yêu cầu phát triển. Tiếp tục lồng ghép các chương trình giảm nghèo có hiệu quả, phấn đấu giảm nghèo bền vững. Thực hiện tốt các chế độ, chính sách cho các đối tượng, đảm bảo an sinh xã hội.

 - Tăng mức hưởng thụ văn hóa thông tin cho nhân dân, đẩy mạnh xã hội hoá để xây dựng các thiết chế văn hóa cơ sở, đặc biệt là ở các thôn, bản vùng cao, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Đa dạng các hình thức thông tin tuyên truyền; có biện pháp tích cực để tăng số hộ dân được xem truyền hình. Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia hoạt động và phát triển sự nghiệp thể dục thể thao. Phát triển thể thao quần chúng, thể thao nghiệp dư, thể thao dân tộc, trò chơi dân gian ,v.v..

 - Nâng cao chất lượng bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và khống chế dịch bệnh, đặc biệt các dịch bệnh mới phát sinh. Tăng cường các biện pháp kiểm soát vệ sinh an tòan thực phẩm;  Chú trọng chăm sóc sức khoẻ người nghèo, bà mẹ và trẻ em, người cao tuổi và các hoạt động phục hồi chức năng. Tiếp tục phát triển hệ thống y tế theo hướng hiện đại hóa. Đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực y tế. Tăng cường sự tham gia của hệ thống y tế ngoài công lập vào việc thực hiện các mục tiêu về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Mở rộng liên doanh hợp tác đầu tư trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Thực hiện nghiêm chính sách về phát triển dân số.

           - Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, ưu tiên các đề tài, dự án phục vụ cho những lĩnh vực trọng yếu của tỉnh. Chú trọng công tác triển khai , nhân rộng kết quả nghiên cứu các đề tài, dự án, nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học.       

  IV. Xây dựng hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

 - Các cấp ủy đảng thường xuyên giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật, vi phạm Điều lệ Đảng. Đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng theo nội dung Nghị quyết số 03 của Tỉnh ủy. Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động " Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" theo hướng sâu rộng, thiết thực, hiệu quả và tác dụng lâu dài. 

          - Tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt công tác tổ chức, cán bộ và xây dựng tổ chức cơ sở đảng theo tinh thần NQTW 5 (khoá X) về " Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị", NQTW 6 (khoá X) về "Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên" và Nghị quyết 05-NQ/TU của Tỉnh uỷ khóa XIII. Chăm lo kết nạp đảng viên; đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, quản lý cán bộ, đảng viên; thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình; làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, gắn kết chặt chẽ với quy trình đánh giá, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ lãnh đạo, quản lý; chú trọng nâng cao trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu cấp uỷ, đứng đầu cơ quan, đơn vị ở tất cả các cấp, các ngành trong tỉnh.

- Nâng cao hơn nữa nhận thức về công tác kiểm tra, giám sát, nhất là đối với cấp uỷ cơ sở. Đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiêụ vi phạm; tập trung kiểm tra, giám sát những lĩnh vực quan trọng như: chấp hành chủ trương đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng về tư tưởng chính trị, việc chấp hành nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; lĩnh vực kinh tế, tài chính, hành chính, công tác tổ chức cán bộ, đất đai, xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng lãng phí, khai thác khoáng sản, quản lý xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới... Phối hợp chặt chẽ giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với Thanh tra của Nhà nước, các cơ quan pháp luật và các tổ chức trong hệ thống chính trị  để công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và phòng chống tham nhũng lãng phí có hiệu quả theo nội dung của Nghị quyết trung ương 3, khóa X của Đảng.      

- Phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng. Đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng các cấp, nhất là ở cơ sở. Đẩy mạnh thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX): về công tác dân tộc; về công tác tôn giáo và về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vận động các tầng lớp nhân dân đoàn kết, thống nhất thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII.

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của các cấp chính quyền, vai trò giám sát của HĐND và Đoàn ĐBQH tỉnh. Tiếp tục tìm các giải pháp thực hiện tốt 7 chương trình công tác trọng tâm toàn khoá với 29 đề án, nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy. Thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở.

- Nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân. Đổi mới nội dung, phương thức vận động quần chúng của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể theo hướng lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động; chăm lo bảo vệ và đáp ứng yêu cầu lợi ích chính đáng của nhân dân; phát huy sáng kiến, đa dạng hóa hình thức hoạt động nhằm thu hút thêm nhiều đoàn viên, hội viên .

- Vận động nhân dân đẩy mạnh cuộc vận động cải tạo những tập quán lạc hậu, phát huy bản sắc và truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, luôn phòng ngừa và chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch. Kiên quyết không để các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ.

 Phát huy những thành tích đã đạt được trong nửa nhiệm kỳ qua, phát huy truyền thống đoàn kết, năng động, sáng tạo; trong những năm còn lại của nhiệm kỳ, cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc tỉnh Lào Cai quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ do Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đã đề ra, không ngừng xây dựng tỉnh Lào Cai ngày càng giàu mạnh.

 
 
CÁC TIN KHÁC
LIÊN KẾT WEBSITE
Hỗ trợ kỹ thuật

0203.821.518

Tạ Ngọc Khánh

0203.841.288

Vũ Quang Minh

Thống kê truy cập
Số người online: 261

Tổng số truy cập: 11.375.256