• Thời tiết
  • Ngoại tệ
Weather

24o C
Mưa rào
Độ ẩm 96%
Tốc độ gió 7 km/giờ
 Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ kỹ thuật
 Kỹ thuật viên 1
 0203.821.518 Vũ Quang Minh
 
 Kỹ thuật viên 2
 0203.841.288 Tạ Ngọc Khánh

 Email:hotro@laocai.gov.vn
 

Thống kê
Số người đang online
160
Tổng số truy cập
4974887
 
Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010  (22/12/2010 8:48 SA )

Với quyết tâm cao độ, tranh thủ những thời cơ, thuận lợi đồng thời nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức của các cấp, các ngành, 5 năm qua, nhìn chung kinh tế của tỉnh vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, các vấn đề xã hội có nhiều chuyển biến, an ninh quốc phòng được đảm bảo; cơ bản các chỉ tiêu chính đều đạt và vượt so với kế hoạch (KH) đề ra.

Một số kết quả nổi bật trong 5 năm qua

1. Tăng trưởng kinh tế luôn đạt ở mức cao. Cơ cấu các ngành kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng.

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 13%/năm, cao hơn giai đoạn trước 1,1% và đạt mục tiêu KH; trong đó tăng trưởng ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6,7%/năm, thấp hơn giai đoạn trước 0,6%; ngành công nghiệp và xây dựng 21%/năm, cao hơn giai đoạn trước 4,1% và dịch vụ 11,9%, thấp hơn giai đoạn trước 2,8%.

GDP theo giá hiện hành đạt khoảng 9.848 tỷ. GDP bình quân đầu người đạt 15,7 triệu đồng/người/năm, gấp 3,1 lần so năm 2005 và 1,5 lần so KH.

Tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong GDP liên tục giảm, từ 35,4% năm 2005 xuống còn 27,9% năm 2010, ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 26,5% năm 2005 lên 34,2% năm 2010, dịch vụ giảm từ 38,1% năm 2005 xuống còn 37,9% năm 2010.

Cơ cấu nội ngành nông nghiệp chuyển biến rõ nét và đúng hướng, tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ tăng dần, từ 28,8% năm 2005 lên 34%; trồng trọt từ 71,2% năm 2005 giảm xuống 66%.

2. Sản xuất lương thực liên tục được mùa, trồng rừng kinh tế phát triển mạnh, kinh tế nông nghiệp nông thôn có bước chuyển biến mạnh mẽ.

Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển tiến bộ khá toàn diện, đã phát huy có hiệu quả những lợi thế về đất đai, khí hậu để chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường tiêu thụ. Các vùng sản xuất hàng hóa như: lúa, ngô, chè, chuối, dứa… được hình thành khá rõ và bước đầu xây dựng các vùng sản xuất có hiệu quả như: cây thuốc lá, rau an toàn, hoa, cây ăn quả ôn đới. Các tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng rộng rãi vào sản xuất, đặc biệt là kỹ thuật giống, thâm canh, tăng vụ, trên 90% diện tích lúa, ngô, đậu tương, lạc được trồng giống mới có năng suất cao. Sản xuất tăng vụ được mở rộng đem lại hiệu quả trong chuyển dịch cơ cấu mùa vụ. Năng suất, sản lượng các loại cây trồng đều tăng năm sau cao hơn năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 228 nghìn tấn, bằng 114% KH. Giá trị sản xuất trên đơn vị canh tác đạt 33 triệu đồng, bằng 165% KH. 

Chăn nuôi đại gia súc phát triển theo hướng hàng hoá; đàn trâu bình quân hằng năm tăng 5,57%, đàn bò 6,18%, đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi và bước đầu hình thành các vùng chăn nuôi tập trung, theo hình thức trang trại, phương thức công nghiệp, sử dụng giống tốt, đảm bảo an toàn dịch bệnh, do vậy kết quả chăn nuôi tăng khá. Giá trị sản xuất tăng bình quân trên 11%/năm.

Ngành lâm nghiệp đã chuyển hướng mạnh từ lâm nghiệp nhà nước thuần tuý sang lâm nghiệp xã hội có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế; trồng rừng phòng hộ và rừng kinh tế được tích cực triển khai và đạt nhiều kết quả: Dự kiến đến hết năm 2010, toàn tỉnh trồng mới 4.774 ha rừng phòng hộ, đạt 119,4% KH; trồng 24.330 ha rừng kinh tế, đạt 152% KH. Độ che phủ rừng tăng từ 45% năm 2005 lên 49,5% năm 2010, vượt 1,5% so KH; giá trị sản xuất trên một ha rừng năm 2010 ước đạt trên 18 triệu đồng, gấp 1,5 lần so năm 2005.

Thủy sản phát triển mạnh, đã bước đầu khai thác có hiệu quả những ưu thế về mặt nước, khí hậu để nuôi trồng đa dạng; chú trọng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là trong khâu sản xuất giống nên bước đầu chủ động cung cấp giống tốt cho nuôi trồng thuỷ sản trong tỉnh; nhiều mô hình giống mới hiệu quả cao như cá nước lạnh; diện tích nuôi thâm canh quy mô ngày càng lớn, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản tăng nhanh. Giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha nuôi trồng thuỷ sản từ 18,1 triệu/ha năm 2005, lên 53,3 triệu/ha.

Nông nghiệp nông thôn có bước phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyển giao ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống. Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng đa dạng hoá ngành nghề, tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ, giảm sản xuất thuần nông, một số làng nghề truyền thống được khôi phục. Trang trại nông thôn phát triển khá ở quy mô vừa và nhỏ. Hợp tác xã được chuyển đổi, củng cố, sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn. Cơ sở hạ tầng nông thôn, nhất là đường giao thông, thuỷ lợi, cấp điện, cấp nước, trường học, chợ…được chú ý đầu tư. Công tác phòng chống bão lũ, thiên tai và sắp xếp ổn định dân cư được đẩy mạnh. Hằng năm, đã cân đối, bố trí từ 65- 70% tổng vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước địa phương để đầu tư cho vùng nông thôn, vùng cao. Vì vậy đến nay: 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 80% số xã có đường cho xe cơ giới đến tất cả các thôn bản; 87% số thôn bản có đường giao thông liên thôn; hệ thống thuỷ lợi đã đảm bảo nước tưới cho 85% diện tích ruộng; 100% số xã có trường, lớp học kiên cố tại trung tâm, 65% thôn, bản có điểm trường kiên cố; 100% số xã có điện lưới quốc gia đến trung tâm xã với 77% hộ ở nông thôn được dùng điện; 100% số xã có trạm y tế xã; 74% số hộ được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; cơ bản xoá nhà tạm cho hộ nghèo tại khu vực nông thôn, trên 6.000 lao động vùng nông thôn được đào tạo nghề; sắp xếp ổn định dân cư được đẩy mạnh, đã bố trí, di chuyển gần 6.000 hộ dân về nơi ở mới... Đã có trên 250 trang trại quy mô vừa và nhỏ tập trung chủ yếu ở huyện Bảo Thắng và Bát Xát, 190 HTX với gần 10.000 xã viên và 13.780 lao động; Nghị quyết Trung ương 7 khoá X “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” được triển khai mạnh mẽ, đã thu được kết quả bước đầu. Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng đa dạng hoá ngành nghề và kinh tế trang trại. Đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, đặc biệt vùng nông thôn, vùng cao được cải thiện rõ rệt.

3. Sản xuất công nghiệp duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, bước đầu tạo phát triển “đột phá”. Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng mạnh

- Sản xuất công nghiệp phát bước đầu khai thác có hiệu quả những tiềm năng, lợi thế về khai thác chế biến khoáng sản, đầu tư phát triển thuỷ điện, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản; đã tạo được cơ sở quan trọng cho bước phát triển đột phá trong giai đoạn tiếp theo. Nhiều dự án khai thác và chế biến sâu khoáng sản đã đi vào hoạt động như: phân bón, hoá chất, apatit, đồng, sắt…. Tiềm năng về thủy điện được quan tâm đầu tư  khai thác, một số dự án đã đi vào hoạt động với tổng công suất trên 100 MW... Sản xuất công nghiệp và tiểu - thủ công nghiệp đang đà phát triển mạnh, giá trị sản xuất đạt 2.020 tỷ đồng, bình quân hằng năm tăng 25,7%, cao hơn giai đoạn trước 11,8% và tăng 3 lần so với năm 2005. 

Giá trị sản xuất một số ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, có tốc độ phát triển cao so với giai đoạn trước gồm: công nghiệp khai thác chế biến khoáng sản tăng 1,7 lần, chiếm 50,8% tổng giá trị toàn ngành; công nghiệp chế biến nông lâm sản tăng 1,6 lần, chiếm 17,9%; công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tăng 3,1 lần, chiếm 13,7%; đặc biệt là ngành cơ khí, điện nước tăng 16 lần, chiếm 14,7%;

Cơ sở sản xuất tiểu - thủ công nghiệp trên địa bàn tăng mạnh. Quy mô sản xuất và chủng loại sản phẩm, chất lượng được cải thiện, một số sản phẩm đã xây dựng được thương hiệu và đứng vững trên thị trường. Ngoài các sản phẩm truyền thống tiêu biểu như: thổ cẩm, rượu đặc sản, đồ rèn đúc... đã có thêm nhiều sản phẩm mới: chạm khắc bạc, tranh đá quý, đồ sừng, gỗ mỹ nghệ, tăm hương, đũa tre xuất khẩu...  đã tạo ra việc làm cho trên 18.500 lao động.

- Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng mạnh qua các năm. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm ước đạt 25 nghìn tỷ đồng, gấp 3,5 lần giai đoạn trước. Cơ cấu nguồn vốn đầu tư có những đổi mới theo hướng giảm dần tỷ trọng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, tăng nhanh nguồn vốn tín dụng và vốn của các thành phần kinh tế nhờ vậy kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội được quan tâm đầu tư và liên tục cải thiện qua các năm, đặc biệt là kết cấu hạ tầng cho phát triển vùng cao, vùng nông thôn và phát triển vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh, đã góp phần tích cực vào quá trình xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Vốn đầu tư nhà nước được tập trung cho công trình, dự án trọng điểm, chương trình mục tiêu quốc gia, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là, kết cấu hạ tầng vùng cao, vùng nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn: Đã phối hợp chặt chẽ với bộ, ngành trung ương hoàn thành nâng cấp quốc lộ 70, quốc lộ 4D, quốc lộ 4 nối Hà Giang – Lào Cai, xây dựng cầu Kim Thành; triển khai xây dựng đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai, lập quy hoạch sân bay Lào Cai và chuẩn bị khởi công tuyến đường sắt Yên Viên – Lào Cai. Tập trung đầu tư xây dựng Trung tâm hành chính hiện đại của tỉnh tại Khu đô thị mới Lào Cai - Cam Đường, đảm bảo hoạt động của cơ quan hành chính, sự nghiệp của tỉnh vào năm 2010. Đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng thiết yếu tại Cửa khẩu quốc tế Lào Cai, Khu thương mại – công nghiệp Kim Thành giai đoạn I, hạ tầng kỹ thuật các cụm công nghiệp Bắc Duyên Hải và Đông Phố Mới; hạ tầng kỹ thuật sau kè bờ hữu sông Hồng…; tăng cường đầu tư hạ tầng thiết yếu đô thị huyện Si Ma Cai, Mường Khương tạo nên hình hài đô thị miền núi.

4. Kinh tế cửa khẩu, du lịch tiếp tục được khẳng định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng cao.

Thương mại phát triển mạnh đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trên địa bàn, đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa. Đã thu hút nhiều thành phần kinh tế đầu tư kinh doanh với hơn 8.600 cửa hàng kinh doanh thương mại dịch vụ. Hệ thống chợ, cửa hàng thương nghiệp, vật tư nông nghiệp được quan tâm phát triển tới các trung tâm cụm xã, các khu vực vùng sâu, vùng xa... góp phần tích cực thúc đẩy sản xuất hàng hóa, đáp ứng các nhu cầu phân phối hàng hóa thiết yếu và tiêu thụ nông sản cho nông dân. Tổng mức luân chuyển hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ đạt trên 5.500 tỷ, tăng gấp 3,6 lần so 2005, vượt 83% mục tiêu KH; tốc độ bình quân tăng 29,6%/năm, cao hơn giai đoạn trước 6,5%.

Khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai hoạt động sôi động, Khu thương mại – công nghiệp Kim Thành đã đi vào vận hành, thủ tục hành chính tại cửa khẩu được giải quyết nhanh gọn, thông thoáng; hàng hoá xuất khẩu đã mở rộng thị trường đến nhiều nước và lãnh thổ trên thế giới… Trên địa bàn tỉnh đã thu hút trên 540 đơn vị doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất, nhập khẩu. Kim ngạch xuất, nhập khẩu theo xu hướng tăng lên hằng năm, năm 2010, ước đạt 720 triệu USD, tăng bình quân 15,5%/năm. Kim ngạch xuất nhập khẩu của địa phương năm 2010 ước đạt 85 triệu USD, gấp 2,4 lần so năm 2005 và vượt 21,4% so mục tiêu KH. Hoạt động xuất, nhập khẩu đã đóng góp quan trọng vào tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn với tốc độ tăng thu bình quân 5 năm đạt 20,2%, .

Hoạt động du lịch thu được nhiều kết quả. Tổng lượt khách du lịch năm 2010 đạt 892 nghìn lượt người, gấp 1,8 lần so năm 2005; vượt 8,7% mục tiêu KH; bình quân tăng 12,,2%/năm.

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng trưởng cao với mức bình quân 5 năm đạt 20,5%. Năm 2010, thu đạt trên 1.800 tỷ đồng, vượt 37,5% so với mục tiêu Đại hội đề ra, gấp 2,5 lần so với năm 2005. Thu từ nội địa với tỷ trọng ngày càng cao; năm 2010, tăng gấp 3,5 lần so với năm 2005 và tăng từ 31,2% năm 2005 lên 42,4%, phản ánh sự phát triển của nền kinh tế, chất lượng và hiệu quả của việc nuôi dưỡng và khai thác nguồn thu.

Hoạt động tín dụng bám sát mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của tỉnh, đã huy động và đáp ứng nhu cầu về vốn cho các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, giai đoạn 2006 - 2010. Tổng nguồn vốn huy động bình quân hằng năm tăng trưởng 36%. Tổng dư nợ cho vay bình quân hằng năm tăng trưởng 34%. Chất lượng tín dụng được chú trọng, tỷ lệ nợ xấu luôn dưới 3%.

Dịch vụ vận tải hành khách và hàng hoá tiếp tục phát triển, chất lượng dịch vụ vận tải được nâng lên, cơ bản đáp ứng được nhu cầu giao lưu hàng hoá và đi lại của nhân dân.

Bưu chính - viễn thông phát triển nhanh, mạng lưới được mở rộng, chất lượng dịch vụ liên tục được cải thiện; 126/144 xã có điểm Bưu điện - văn hóa xã; 98/164 xã, phường, thị trấn có báo đến trong ngày; 9/9 huyện, thành phố được phủ sóng điện thoại di động; mật độ đạt 100 thuê bao/100 dân, tăng gấp 11,2 lần so năm 2005; mật độ internet đạt 3,23 thuê bao/100 dân.

5. Phát triển các thành phần kinh tế và thu hút đầu tư

- Sắp xếp đổi mới DNNN đạt tiến độ đề ra. Các doanh nghiệp sau cổ phần hoá hoạt động có hiệu quả. Trong 5 năm, toàn tỉnh đã sắp xếp được 14 DNNN, đạt KH đề ra. Số doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn tăng mạnh, năm 2010 có khoảng 1.622 đơn vị, tăng 148% so năm 2005; tổng số vốn đăng ký 10.338 tỷ đồng, gấp hơn 7 lần so với năm 2005.

- Thu hút đầu tư đạt được nhiều kết quả quan trọng: Trong 5 năm, đã chấp thuận đầu tư 176 dự án với tổng vốn đăng ký 18.409 tỷ đồng, gấp 3,3 lần về số dự án và 8 lần về vốn đăng ký so năm 2005. Đã thu hút được 26 chương trình, dự án ODA với tổng số vốn 145 triệu USD; 86 dự án NGO với tổng vốn tài trợ 6,1 triệu USD; cấp phép cho 17 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 350 triệu USD. Nhiều công trình đầu tư bằng nguồn vốn ODA đã hoàn thành, đưa vào sử dụng và đem lại hiệu quả thiết thực như Dự án Giảm nghèo (WB) giai đoạn I, Dự án Lưới điện nông thôn, Dự án Ngành cơ sở hạ tầng nông thôn… và vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh, đã góp phần tích cực vào xoá đói, giảm nghèo, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nâng cao đời sống nhân dân.

6. Các lĩnh Văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ

6.1. Công tác giáo dục - đào tạo đã có nhiều chuyển biến tích cực: quy mô giáo dục tăng nhanh, nhất là các xã vùng cao, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em tại các cơ sở giáo dục mầm non được nâng lên một bước. Công tác phổ cập giáo dục tiểu học được duy trì và củng cố tại 164/164 số xã, phường, thị trấn; chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở hoàn thành đúng tiến độ. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường (từ 6 đến 14 tuổi) ước đạt 99%, tăng 3% năm 2005, vượt 0,5% so mục tiêu KH. Chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông từng bước được nâng lên; tỷ lệ lưu ban, bỏ học giảm dần; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp và số học sinh khá giỏi tăng qua các năm. Đội ngũ giáo viên được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Cơ sở vật chất trường lớp tiếp tục được củng cố và tăng cường. Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh, đem lại hiệu quả thiết thực.

6.2. Lĩnh vực văn hoá thông tin và thể thao thu được nhiều kết quả. Công tác thông tin tuyên truyền được đẩy mạnh, góp phần tích cực vào việc tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong đời sống dân cư nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa. Công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở được triển khai mạnh mẽ; số nhà văn hoá xã, phường và thôn bản liên tục tăng qua các năm; phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng nếp sống văn hoá ở nơi dân cư được triển khai rộng khắp ở các thôn, bản. Hoạt động thể thao diễn ra sôi động, phong trào toàn dân tham gia luyện tập thể dục thể thao được triển khai mạnh mẽ; tỷ lệ số người thường xuyên tham gia luyện tập thể dục thể thao năm 2010 ước đạt 21% dân số toàn tỉnh, tăng 4,5% so với năm 2005, vượt 3% so mục tiêu KH; duy trì tốt các môn thể thao mũi nhọn đã đạt được thành tích cao tại các giải toàn quốc như bóng bàn, cầu lông, các môn võ…; cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động TDTT từ tỉnh đến cơ sở đã từng bước được đầu tư, cơ bản đáp ứng được nhu cầu phát triển của phong trào TDTT.

6.3. Phát thanh, truyền hình, báo chí ngày càng hoàn thiện và phát triển. Đã thực hiện tốt vai trò chuyển tải các chủ trương chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân. Thời lượng tiếp sóng, phát sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam; thời lượng phát thanh, truyền hình địa phương và thời lượng phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc liên tục gia tăng qua các năm. Đến hết năm 2010, tỷ lệ số hộ xem được truyền hình ước đạt 75%, tăng 8% so năm 2005; tỷ lệ số hộ nghe được đài ước đạt 95%, tăng 8% so năm 2005 và đạt mục tiêu KH.

6.4.  Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng được cải thiện, mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và nâng cấp. Tỷ lệ số giường bệnh/vạn dân, số bác sỹ/vạn dân, số cán bộ y tế/vạn dân đều tăng qua các năm. Hết năm 2010, dự kiến có khoảng 60% xã, phường, thị trấn trên địa bàn đạt chuẩn quốc gia về y tế, 95% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, đạt mục tiêu KH. Tỷ lệ mắc và chết do các dịch bệnh giảm rõ rệt qua các năm. Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình; chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em đạt kết quả khá, sức khỏe bà mẹ và trẻ em liên tục được cải thiện; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dịnh dưỡng giảm từ 33% năm 2005 xuống còn 25,7% năm 2010. Hệ thống cung cấp các dịch vụ y tế được mở rộng, công tác xã hội hoá về y tế được đẩy mạnh, các cơ sở y tế tư nhân từng bước phát triển.

6.5. Công tác xoá đói giảm nghèo đạt được những kết quả đáng khích lệ, tạo cơ hội và điều kiện cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nâng cao trình độ dân trí, thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân. Tỷ lệ số hộ đói nghèo giảm nhanh qua các năm, từ 47% năm 2005 xuống còn 16,68% năm 2010, vượt 3,32% mục tiêu KH.

6.6. Công tác đào tạo, giải quyết việc làm có bước tiến bộ đáng kể. Trong 5 năm, tạo thêm việc làm mới cho khoảng 47.500 lao động, đạt so mục tiêu KH. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2010 ước đạt 38,8%, gấp 1,6 lần so năm 2005, vượt 7,7% so mục tiêu KH; trong đó tỷ lệ lao động qua đào đạo nghề chiếm 27,8%, gấp 1,8 lần năm 2005 và vượt 11,2% mục tiêu KH.

6.7. Công tác chăm sóc người có công được chú trọng và ngày càng được tăng cường theo hướng xã hội hoá; phát động và thực hiện tốt phong trào "đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, công tác cứu trợ đã được các ngành các cấp quan tâm. Công tác phòng chống tai, tệ nạn xã hội được đẩy mạnh; phong trào xây dựng xã phường lành mạnh không có tệ nạn xã hội ngày càng được nhân rộng.

6.8. Khoa học và công nghệ có bước chuyển biến và đạt được nhiều kết quả: đã hướng vào phục vụ sản xuất và đời sống, góp phần quan trọng trong việc xây dựng luận cứ khoa học, hoạch định các chính sách, mục tiêu, giải pháp phát triển kinh tế xã hội và trong việc nâng cao khối lượng và chất lượng sản phẩm hàng hoá, đóng góp tích cực vào xoá đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông từng bước được hoàn thiện, đã hình thành hệ thống mạng Intranet - Internet dùng chung của tỉnh, thực hiện miễn phí truy cập Internet cho cá nhân, tổ chức trong tỉnh khi truy nhập qua mạng dùng chung của tỉnh; đào tạo, nâng cao năng lực sử dụng máy tính có nối mạng cho cán bộ, công chức trong tỉnh.

7. Khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường được tăng cường

- Tài nguyên đất đai được quản lý chặt chẽ, khai thác sử dụng đúng mục đích. Với cơ chế, chính sách phù hợp, công khai, dân chủ, công bằng đã cơ bản giải quyết được những tồn tại trong những năm trước đây và những vấn đề mới nảy sinh. Hình thức giao đất được chuyển đổi dần từ xét duyệt sang đấu giá công khai, từ thuê sang giao đất có thu tiền. Tình trạng vi phạm pháp luật, tranh chấp, khiếu nại về đất đai được xử lý và giải quyết tích cực; người sử dụng đất hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ của mình nên đã thực hiện tốt nghĩa vụ tài chính, nguồn thu từ đất tăng mạnh qua các năm, góp phần quan trọng trong việc xây dựng hạ tầng cơ sở và phát triển đô thị của tỉnh.

- Tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước được kiểm kê, đánh giá đưa vào dữ liệu quản lý, cấp phép khai thác, sản xuất đúng quy định, phù hợp với quy hoạch và yêu cầu về bảo vệ môi trường. Công tác bảo vệ môi trường đã có bước chuyển biến rõ rệt; nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, các ngành và đại bộ phận cán bộ, nhân dân được nâng lên một bước; công tác bảo vệ môi trường ở một số đơn vị, doanh nghiệp được chú trọng; công tác bảo vệ, đa dạng sinh học được quan tâm đúng mức, do đó bước đầu đã giảm thiểu được ô nhiễm môi trường; mức độ suy thoái và sự cố môi trường từng bước được hạn chế.

8. Quốc phòng được củng cố và giữ vững, an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, công tác đối ngoại có bước phát triển vượt bậc

- Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong cán bộ, nhân dân, các cấp, các ngành được tăng cường. An ninh trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, duy trì thường xuyên. Công tác nắm bắt cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân được quan tâm kịp thời, đúng pháp luật. Sự phối, kết hợp giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh được chú trọng hơn trong công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch và hình thành các dự án, chương trình đầu tư.

- Hoạt động đối ngoại không ngừng được mở rộng và đạt được nhiều kết quả, mở ra những hướng đi mới trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Công tác trao đổi đoàn liên tục tăng qua các năm, bình quân tăng trên 30%/năm. Quan hệ đối ngoại giữa Lào Cai và Vân Nam - Trung Quốc được nâng lên tầm cao mới, toàn diện, thiết thực, nhiều nội dung hợp tác đang tích cực được triển khai; quan hệ với nhiều vùng, lãnh thổ, tổ chức quốc tế được duy trì và mở rộng: Vùng Aquitaine (CH Pháp), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), Oxfam (Anh), JICA (Nhật Bản), DANIDA (Đan Mạch), …

9. Hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố, tăng cường. Đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ. Cải cách hành chính được đẩy mạnh và thu được nhiều kết quả quan trọng

Trong 5 năm qua, đã đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị cho 32.049 lượt người; kiến thức quản lý nhà nước cho 20.898 lượt người và đào tạo nghề cho 14.079 lượt người; tăng cường 78 cán bộ tỉnh, huyện về các xã đặc biệt khó khăn. Nhờ đó, đội ngũ cán bộ được bổ sung về số lượng, nâng cao về chất lượng

 - UBND các cấp đã có nhiều đổi mới trong quá trình chỉ đạo, điều hành và quản lý kinh tế - xã hội, do vậy đã phát huy được tiềm năng, lợi thế của tỉnh và tranh thủ được sự ủng hộ của Trung ương, của các tỉnh, thành phố và các thành phần kinh tế đồng thời cũng đảm bảo theo đúng luật định, đúng Nghị quyết của cấp uỷ và HĐND cùng cấp. Hoạt động của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể có những chuyển biến tích cực, quá trình tập hợp, vận động, nắm bắt tình hình các tầng lớp nhân dân đa dạng hơn, hướng mạnh về cơ sở, có sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền trong việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, đã phát huy được vai trò tham gia xây dựng đảng, củng cố chính quyền, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở các xã, phường, thị trấn.

- Cải cách hành chính được quan tâm chỉ đạo hướng mạnh về cơ sở. Các thủ tục hành chính được công khai và đơn giản hoá, nâng cao chất lượng của việc thực hiện theo cơ chế "một cửa". Cơ chế chính sách trên các lĩnh vực được ban hành, tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Tổ chức bộ máy được sắp xếp tinh gọn, chức năng nhiệm vụ rõ ràng. Việc phân cấp cho cơ sở được tăng cường, góp phần tích cực tạo ra sự năng động, chủ động ở cơ sở. Cơ chế quản lý tài chính trong các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị sự nghiệp từng bước được đổi mới và đem lại hiệu quả…

(Trích Kế hoạch Số: 95 /KH-UBND, 02/12/2010, của UBND tỉnh)

Ban Biên tập