Định hướng phát triển kinh tế - xã hội năm 2011  
(29/12/2010 )
 

Năm 2011 là năm đầu thực hiện, có ý nghĩa hết sức quan trọng tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2011-2015 và Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, do đó đòi hỏi nỗ lực phấn đấu rất lớn của các cấp, các ngành, các thành phần kinh tế và nhân dân các dân tộc trên địa bàn.

I. DỰ BÁO TÌNH HÌNH NĂM 2011

1. Về thuận lợi: Trong giai đoạn vừa qua, kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển và đạt được những kết quả quan trọng ở hầu hết các lĩnh vực, là nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2011 và những năm tiếp theo. Nhiều dự án, đặc biệt là các dự án về công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng đã bước đầu hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2011 sẽ tạo ra bước phát triển mới và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tích cực.

Trung ương Đảng, Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương tiếp tục quan tâm, đầu tư cho miền núi, vùng khó khăn, bổ sung thêm nguồn lực đầu tư, tháo gỡ khó khăn về cơ chế, chính sách, đặc biệt là Nghị quyết 30a về giảm nghèo nhanh và bền vững ở 62 huyện nghèo (Lào Cai có 3 huyện Mường Khương, Bắc Hà, Si Ma Cai) và chính sách phát triển nông thôn mới, chính sách phát triển nguồn nhân lực,...;

Cở sở hạ tầng kinh tế xã hội đầu tư từ những năm trước đang phát huy hiệu quả, Quốc lộ 70 đã được cải tạo, nâng cấp tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và du lịch; cầu Kinh Thành đưa vào hoạt động; đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai đang được tích cực thi công; đường sắt Lào Cai – Hà Nội và nhiều tuyến giao thông khác trên địa bàn đã và đang chuẩn bị được đầu tư, nâng cấp.    

Tỉnh ủy, HĐND tỉnh luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao; chính quyền các cấp đã có nhiều cố gắng trong điều hành, chỉ đạo; các thành phần kinh tế và nhân dân các dân trong tỉnh đồng thuận, quyết tâm khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh.

2. Về khó khăn:  Kinh tế thế giới và trong nước đã phục hồi và phát triển, nhưng thị trường tài chính còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn (lãi suất, giá cả hàng hoá tăng cao,...).

- Nguồn nhân lực còn nhiều bất cập, vừa thiếu và yếu (các doanh nghiệp, nhà thầu không tuyển được người lao động có tay nghề ở Lào Cai); một bộ phận nhân dân chưa chủ động phát huy nội lực, còn có tư tưởng trông chờ vào hỗ trợ của nhà nước, chậm thích ứng với cơ chế thị trường và sản xuất hàng hóa.

- Cơ sở vật chất kỹ thuật về kinh tế, xã hội ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn rất thiếu thốn (trụ sở, phòng học, trạm xá, giao thông nông thôn, nước ăn, thuỷ lợi còn rất nhiều khó khăn); hậu quả thiên tai vẫn còn để lại khá nặng nề ở một số nơi; năng lực vận tải tuyến đường sắt, đường bộ từ Hà Nội đến Lào Cai luôn quá tải do hạ tầng kém. Tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao, đời sống của đồng bào nhiều nơi còn nhiều khó khăn. An ninh nông thôn tiềm ẩn yếu tố phức tạp.

- Nguồn lực dự kiến sẽ khó khăn; đặc biệt là nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ trong khi nhu cầu vốn thanh toán cho khối lượng xây dựng cơ bản đã hoàn thành rất lớn.

- Thời tiết diễn biến khó lường, nguy cơ hạn hạn, thiếu nước khó khăn cho vùng cao và các dự án thuỷ điện,….

II. NHIỆM VỤ VÀ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2011

1. Nhiệm vụ năm 2011

a. Tập trung xây dựng và triển khai các chương trình, đề án, dự án trọng tâm của Đảng bộ các cấp; gắn liền với việc rà soát, ban hành các cơ chế, chính sách của tỉnh trong giai đoạn 2011-2015; tổ chức thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 của tỉnh; qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 các huyện, thành phố; quy hoạch phát triển nguồn nhân lực,...

b. Về kinh tế:  Thực hiện tốt công tác quy hoạch các ngành và lĩnh vực đến năm 2020, hoàn thành công tác quy hoạch nông thôn mới (144 xã) và triển khai đầu tư xây dựng 35 xã trên địa bàn đạt tiêu chí nông thôn mới; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, du lịch. 

- Tiếp tục đầu tư cho sản xuất nông nghiệp; đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ,  áp dụng khoa học kỹ thuật, giống mới… để tăng năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi.

- Giải quyết kịp thời các khó khăn về vốn, mặt bằng… để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án lớn về công nghiệp, thủy điện. Quy hoạch thêm các cụm tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn, đầu tư hạ tầng để thu hút các hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp.

- Tranh thủ tối đa sự hỗ trợ từ Trung ương, huy động tốt nguồn nội lực của tỉnh để cân đối trên 70% tổng nguồn lực từ ngân sách đầu tư cho vùng nông thôn, vùng khó khăn; tập trung xây dựng các công trình trọng điểm, các công trình có khả năng hoàn thành ngay trong năm 2011. Bố trí sử dụng vốn đúng quy định, có ưu tiên và trọng điểm; đẩy nhanh tiến độ thực hiện và tốc độ giải ngân để sử dụng hiệu quả tất cả các nguồn lực trên địa bàn. Tăng cường công tác thanh kiểm tra nhằm bảo đảm chất lượng của công trình, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng.

- Phối hợp chặt chẽ với Bộ, ngành Trung ương để đẩy nhanh tiến độ thực hiện đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai cùng các dự án trọng điểm của tỉnh; hoàn thiện thủ tục và khởi công thực hiện dự án cải tạo đường sắt Yên Viên – Lào Cai, cầu Phố Lu, cầu Giang Đông, Quốc lộ 279 đoạn Phố Ràng - Khau Co, Quốc lộ 4D đoạn Sa Pa - Lào Cai... triển khai quy hoạch sân bay Lào Cai, trạm cân xe trên QL 70, dự án vận tải thuỷ sông Hồng...

- Tăng cường cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm tạo ra diện mạo và sức hút mới cho ngành du lịch của tỉnh, trọng tâm là khu du lịch Sa Pa, Bắc Hà, thành phố Lào Cai.

- Thực hiện các giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát; tăng cường kiểm soát thị trường, củng cố và hoàn thiện mạng lưới phân phối để đảm bảo cung ứng hàng hóa với giá cả hợp lý, đặc biệt là các hàng hóa đầu vào của sản xuất, hàng hóa tiêu dùng thiết yếu của nhân dân và tại những vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn.

b. Về xã hội: Thực hiện có hiệu quả chính sách xã hội hóa trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa để thu hút nguồn lực đầu tư của các thành phần kinh tế, từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ của các lĩnh vực này.

- Đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức; đào tạo nghề đặc biệt là lao động nông thôn, vùng tái định cư để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Triển khai thực hiện thí điểm việc xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ.

- Thực hiện các chính sách an sinh xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, ổn định đời sống đối với người nghèo, vùng nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn, vùng thiên tai...đảm bảo thực hiện giảm nghèo bền vững.

- Giải quyết kịp thời các vấn đề xã hội bức xúc; đặc biệt là tình trạng tội phạm, ma túy, tai nạn giao thông, buôn bán người, khiếu kiện kéo dài.

c. Về bảo vệ môi trường: Ưu tiên trồng rừng tại khu vực Vườn quốc gia Hoàng Liên, các huyện có tỷ lệ tàn che thấp như Si Ma Cai, Mường Khương; phát triển mạnh trồng rừng kinh tế, rừng biên giới, cây cao su.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản; khai thác theo quy hoạch và sử dụng hợp lý, có hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn.

- Tuyên truyền, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng để toàn xã hội nâng cao nhận thức về môi trường. Thực hiện việc đánh giá tác động môi trường trước khi cấp chứng nhận đầu tư. Từng bước giải quyết tình trạng suy thoái môi trường ở khu vực các nhà máy, bệnh viện, khu đông dân cư và cơ sở giết mổ tập trung.

- Phòng tránh tác động xấu của thiên tai; ứng cứu kịp thời và khắc phục hậu quả xấu do thiên tai gây ra.

d. Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng, chống tham nhũng. Triển khai mạnh mẽ kế hoạch cải cách hành chính, tập trung vào các nội dung: Thực hiện cơ chế “một cửa” tại trụ sở UBND các huyện, thành phố và tất cả các sở, ban, ngành; triển khai rộng rãi cơ chế "một cửa" liên thông; tăng cường cải cách thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, đăng ký kinh doanh. Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong quản lý nhà nước. Thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước các cấp; phổ biến rộng rãi và niêm yết công khai rõ ràng tại công sở quy chế, quy trình và các thủ tục hành chính.

- Nâng cao ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, đơn vị, cán bộ công chức trong công tác phòng, chống tham nhũng. Kết hợp chặt chẽ giữa việc thực hiện phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; trong đó, tập trung vào các lĩnh vực đất đai, đầu tư xây dựng, thu - chi ngân sách nhà nước, quản lý tài sản công, công tác đề bạt và bố trí cán bộ.

e. Củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia và trật tự an toàn xã hội, đặc biệt tại các trung tâm đô thị, khu du lịch để tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế và thu hút du lịch.

2. Dự kiến các chỉ tiêu chủ yếu của năm 2011

a. Các chỉ tiêu về kinh tế

(1) Tốc độ tăng trưởng GDP trên 13%; trong đó nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,6%, công nghiệp - xây dựng tăng 19,3% và dịch vụ tăng 12%.

(2) GDP bình quân đầu người: 16,5 triệu đồng, tăng 10% so thực hiện năm 2010.

(3) Tỷ trọng các ngành kinh tế trong GDP: Nông, lâm, ngư nghiệp 25,9%; công nghiệp - xây dựng 37,6% và dịch vụ 36,5%.

(4) Sản xuất nông lâm nghiệp:

- Tổng sản lượng lương thực có hạt: 233.500 tấn, tăng 1,3% so thực hiện năm 2010.

- Giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích đất canh tác: 35 triệu đồng/ ha, tăng 7% so thực hiện năm 2010.

(5) Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: 2.400 tỷ đồng, tăng 15,8% so thực hiện 2010.

(6) Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên địa bàn: 800 triệu USD, tăng 11% so ước thực hiện 2010. Giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của tỉnh: 93 triệu USD, tăng 8,2%; trong đó xuất khẩu: 48 triệu USD, tăng 4,4% so ước thực hiện 2010.

(7)  Du lịch: Tổng lượng khách du lịch: 891 nghìn lượt người. Tổng doanh thu du lịch: 900 tỷ đồng, tăng 28,6% so thực hiện 2010.

(8) Thu chi ngân sách: Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn: 1.900 tỷ đồng. Tổng thu, chi ngân sách địa phương: 5.000 tỷ đồng.

b. Các chỉ tiêu về xã hội

(1) Giáo dục - đào tạo:

- Duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và trung học cơ sở tại 100% số xã, phường, thị trấn trên địa bàn.

- Tỷ lệ huy động trẻ em 6 - 14 tuổi đến trường: 99,5%, tăng 0,1% so thực hiện 2010; tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi đi học mẫu giáo 99,8%.

- Tăng số trường đạt chuẩn quốc gia về giáo dục thêm 31 trường.

- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức: Đào tạo văn hoá cho 500 người; lý luận chính trị cho 10.041 người, tăng 24%; quản lý nhà nước cho 6.568 người, giảm 2%; chuyên môn nghiệp vụ cho 21.011 người, tăng 21 % so ước thực hiện 2010.

(2) Giải quyết việc làm: Tạo việc làm mới cho 10.500 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo: 41,7 %, trong đó đào tạo nghề: 30,8 %.

(3) Xoá đói giảm nghèo: Phấn đấu giảm 3 - 5% tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn theo chuẩn hiện hành.

(4) Y tế - kế hoạch hóa gia đình:

- Tỷ lệ giảm sinh 0,6 ‰.

- Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tiêm chủng đầy đủ: 97 %.

- Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi: 24,48 %.

(5) Phát thanh - Truyền hình:

- Tỷ lệ hộ nghe được Đài tiếng nói Việt Nam: 95%.

- Tỷ lệ hộ xem được Đài Truyền hình Việt Nam: 80%.

(6) Văn hoá: Phấn đấu 1.120 số làng bản, tổ dân phố được công nhận đạt chuẩn văn hóa; 93.500 gia đình được công nhận gia đình văn hóa.

(7) Sắp xếp dân cư: Sắp xếp dân cư cho 1.704 hộ dân (trong đó sắp xếp ra biên giới 41 hộ).

c. Các chỉ tiêu về môi trường.

(1)  Tỷ lệ che phủ của rừng: 50%

(2) Tỷ lệ số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh: 83%, trong đó khu vực nông thôn 78%, khu vực thành thị 98%.

(3) Tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở đô thị: 75%.

(4) Tiếp tục thực hiện đầu tư bảo tồn 02 khu thiên nhiên tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên và khu bảo tồn thiên nhiên huyện Văn Bàn; Trồng mới 3.200 ha cao su (Bảo Thắng: 1.500 ha, Bát Xát: 1.000 ha, Mường Khương: 200ha; TP Lào Cai: 500 ha).

d. Các chỉ tiêu quy hoạch và về kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội.

(1) Thực hiện rà soát các quy hoạch chi tiết xây dựng TP Lào Cai, đô thị  Sa Pa và Bảo Thắng; Quy hoạch nông thôn mới; Rà soát điều chỉnh quy hoạch  khai thác và chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh.

(2) Tiếp tục đầu tư hoàn thiện các dự án về đường giao thông (Quốc lộ, Tỉnh lộ, đường đến trung tâm xã và đường liên thôn). Tỷ lệ đường giao thông liên thôn bản đạt 90%, trong đó kiên cố hoá đạt 50%.

(3) Đầu tư mở rộng lưới điện đến một số thôn bản chưa có điện, nâng tỷ lệ số hộ được sử dụng điện lưới đạt 83%.

(4) Lồng ghép các nguồn vốn trên địa bàn, từng bước đầu tư nâng cấp trường học, trạm y tế và trụ sở xã theo chuẩn quy định.

(5) Tiếp tục đầu tư, nâng cấp hệ thống thủy lợi; chợ nông thôn; nhà văn hóa xã và thôn bản.
Ban biên tập 
 
CÁC TIN KHÁC
LIÊN KẾT WEBSITE
Hỗ trợ kỹ thuật

0203.821.518

Tạ Ngọc Khánh

0203.841.288

Vũ Quang Minh

Thống kê truy cập
Số người online: 48

Tổng số truy cập: 11.534.695