1. Sản xuất nông nghiệp vượt qua khó khăn về thời tiết và thiên tai, sản xuất lương thực tiếp tục được mùa, đầu tư cho nông thôn được chú trọng.
- Trồng trọt. Các địa phương đã có kế hoạch chủ động ứng phó với thời tiết chuyển đôi cơ cấu cây trồng (chuyển 391 ha lúa Xuân bị khô hạn sang trồng các loại cây trồng khác); kịp thời phòng chống dịch bệnh trên 4.300 ha lúa, nên nhìn chung không ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng toàn tỉnh. Diện tích gieo trồng ngô và lúa cả năm đạt trên 62.500 ha, bằng 106,5% KH và tăng 15% so CK.
Các cây trồng khác được nhân dân tích cực triển khai, sản lượng rau, đậu các loại ước đạt 90.410 tấn, tăng 7,9% so CK; Cây đậu tương 5.100 tấn, tỏi 405 tấn. Cây rau an toàn được triển khai và nhân rộng, tập.trung chủ yếu vào cây su su bắp cải, và rau cải các loại. Bước đầu phát triển trồng hoa theo hướng công nghệ cao, năm 2011 trồng được l49 ha.
Cây chuối, cây dứa hàng hóa mang lại hiệu quả cao, thị trường tiêu thụ thuận lợi; đến nay đã hình thành vùng trồng dứa hàng hóa tập trung tại các thu nhập bình quân đạt 30 triệu đồng/ha;
Sản xuất tăng vụ được tích cực triển khai mang lại hiệu quả trong chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, nâng cao hệ số sử dụng đất và thu nhập của nông dân. Năm 2011 đã tăng vụ được 7.138 ha, đạt KH giao, tăng 3,1% so CK;
- Chăn nuôi: Đầu năm do thời tiết rét đậm và dịch bệnh lở mồm long móng làm chết trên 15.400 con trâu, bò, lợn các loại, nên số lượng gia súc năm 2011trên địa bàn bị ảnh hưởng, so kế hoạch giao: Đàn lợn giảm 9,7%, đàn trâu giảm 6,4%, đàn bò giảm 8%, đàn gia cầm tăng 2,3% KH, tuy nhiên so với cùng kỳ năm 2010, các đàn gia súc, gia cầm đều tăng.
Tiến bộ khoa học, kỹ thuật được chú trọng áp dụng, chăn nuôi trang trại theo hình thức công nghiệp được triển khai mạnh, toàn tỉnh có 95 cơ sở chăn nuôi lợn, gia cầm đạt tiêu chí trang trại. Các mô hình khuyến ngư tích cực triển khai: Các loại giống thủy sản nước ấm chất lượng cao như cá nheo vàng, tôm càng xanh...; các cơ sở nuôi cá nước lạnh (cá hồi, cá tầm) tiếp tục đầu tư sản xuất. Năm 2011 công tác nuôi trồng thủy sản đạt kế hoạch giao, diện tích đạt 1 640 ha, tăng 2% so CK; sản lượng 3.634 tấn, tăng 14,6o/o so CK.
- Lâm nghiệp. Công tác bảo vệ, chăm sóc và trồng rừng mới được đẩy mạnh, Năm 2011 thực hiện bảo vệ 97.059 ha rừng, tăng 19% KH; khoanh nuôi chuyển tiếp 2.200 ha rừng, trồng rừng mới 4.747 ha, đạt KH. Năm 2011 giao trước trồng rừng mới kế hoạch 2012 là 2.000 ha (3 huyện 30a 1.000 ha, huyện Bảo Yên 1.000 ha). Công tác tuyên truyền quản lý bảo vệ rừng được tăng cường, do vậy từ đầu năm đến nay chưa để xảy ra cháy rừng. Đẩy mạnh công tác rà soát, triển khai quy hoạch và đề nghị Trung ương bổ sung tỉnh Lào Cai vào vùng trồng cây cao su của cả nước; năm 2011 diện tích trồng mới đạt 202 ha; bằng 101,3% KH điều chỉnh, nâng tổng số diện tích cao su đại điền lên 89 1 ha.
- Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được tập trung triển khai; các cấp, các ngành đã tiến hành rà soát và tổng hợp các danh mục đầu tư tại 3 5 xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015; tích cực triển khai lập đồ án quy hoạch nông thôn mới cấp xã (41 xã hoàn thiện và phê duyệt, 61 xã đã hoàn thiện chờ phê duyệt, 42 xã đang thực hiện). Tập trung thực hiện chương trình trọng tâm hướng về cơ sở và phát động phong trào thi đua Chung sức xây dựng nông thôn mới". Tình hình đời sống, sản xuất, sinh hoạt của nhân dân ở nông thôn được quan tâm. Các hộ dân nằm trong vùng nguy hiểm, được bố trí sắp xếp di chuyển kịp thời; đời sống của các hộ dân sau khi sắp xếp bước đầu được đảm bảo, ổn định đời sống và sản xuất, tuy nhiên qua việc rà soát, để đảm bảo được tính chính xác và ưu tiên sắp xếp các hộ trong vùng cấp bách đến nơi có đủ điều kiện về hạ tầng cơ sở, đồng thời phù hợp với khả năng cân đối nguồn vốn năm 2011, nên thực hiện sắp xếp được 739 hộ/1704 hộ, bằng 43,4% kế hoạch giao.
Trong năm 2011 tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, các đợt rét đậm rét hại kéo dài, mưa đá, lũ quét gây thiệt hại về người và tài sản (làm 7 người chết, 10 người bị thương; 27 nhà sập đổ, trên 700 nhà hư hỏng; nhiều tuyến kênh mương bị vùi lấp, hơn 510 ha lúa và hoa màu bị ảnh hưởng và thiệt hại. . . Tổng thiệt hại ước khoảng 70 tỷ đồng.
2. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng cao, xây dựng cơ bản triển khai tích cực
- Giá tri sản xuất công nghiệp trên địa bàn ước đạt 2.500 tỷ đồng, bằng 104,2% KH, tăng 15,2% so CK, trong đó công nghiệp trung ương 1.288 tỷ đồng, bằng 1 13,3%KH, công nghiệp địa phương 1.031 tỷ đồng, bằng 86,7% KH, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 180 tỷ đồng, tăng 140% KH. Sản lượng các sản phẩm công nghiệp của tỉnh duy trì ổn định, một số sản phẩm chủ yếu tăng cao so cùng kỳ: Quặng sắt 136%, bạc thỏi. 120% vàng thỏi 35%, điện phát tăng 12,6%, phối pho vàng 6,7%.
- Về thực hiện vốn đầu tư phát triển: Do thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp và sự năng động trong chỉ đạo điều hành năm 2011, nên trong năm đã huy động được lượng vốn đầu tư lớn, ước tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 10.000 tỷ đồng, tăng 25% so thực hiện năm 2010; trong đó huy động từ nguồn vốn ngân sách nhà nước 3.009 tỷ đồng (chiếm 30% tổng vốn), tăng 25% so với thực hiện năm 2010. Khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành ước đạt 2.866 tỷ đồng, bằng l12% KH; giá trị thanh toán ước thực hiện 2.474 tỷ đồng, bằng 97% KH (30% vốn năm 2011 chưa giải ngân được, nguyên nhân: Do vốn ODA giải ngân chậm, vốn đô thị mới Lào Cai Cam Đường thiếu nguồn thanh toán, thực hiện Nghị quyết 1 l/NQ-CP của Chính Phủ không được ứng vốn thanh toán các công trình khởi công mới phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ).
3. Các hoạt động dịch vụ phát triển khá đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trên địa bàn:
- Hoạt động thương mại phát triển ổn định, các mặt hàng chính sách được cung ứng kịp thời. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội năm 2011 ước đạt 7.500 tỷ đồng, bằng 115,4% KH, tăng 33,3% so CK.
- Xuất nhập khẩu có bước phát triển mạnh. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 1.300 triệu USD, bằng 153% KH, tăng 58% so CK. Kim ngạch xuất nhập khẩu của tỉnh ước thực hiện 88,6 triệu USD, bằng 95,2% KH, tăng 1,5% so CK. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu gồm: quặng Apatít, quặng sắt, cao su, hạt điều, đường...; các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu gồm: Phân bón, năng lượng điện, hóa chất, máy móc thiết bị. . .
- Hoạt động du tích được xúc tiến, tăng cường công tác quảng bá nên lượng khách du lịch đến Lào Cai năm 2011tăng đáng kể, tổng lượng khách ước đạt 970.000 lượt, bằng 109% KH, tăng 8% so CK; doanh thu ước đạt 1.356 tỷ đồng, bằng 151% KH, tăng 65% so CK.
- Hoạt động vận tải, bưu chính, viễn thông phát triển mạnh, cơ bản đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và khách hàng, phục vụ sản xuất, đời sống của nhân dân: Vận chuyển hành khách tăng 33,7%, vận chuyển hàng hoá tăng 54% so CK. Năm 2011thực hiện phát triển thêm 114.000 thuê bao điện thoại, 8.400 thuê bao Intemet, tính bình quân đạt 94 thuê bao điện thoại và 5,3 thuê bao intemet/100 dân.
4. Thu, chi ngân sách nhà nước, tín dụng và giá cả thị trường.
- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 2.800 tỷ đồng, bằng 112% dự toán điều chỉnh, tăng 32,5% so CK.
- Hoạt động tín dụng được kiểm soát chặt chẽ. Các ngân hàng trên địa bàn đã chủ động, tích cực trong công tác huy động nguồn vốn, thực hiện tốt chính sách lãi suất nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân vay vốn sản xuất kinh doanh, nhất là khu vực nông nghiệp nông thôn. Nguồn vốn huy động năm 2011 ước đạt 12.000 tỷ đồng, tăng 25% so với 31/12/2010. Tổng dư nợ đạt: 10.000 tỷ đồng, tăng 20% so 31/12/2010. Tỷ lệ nợ xấu duy trì mức an toàn, dưới 1,5%.
- Giá cả thị trường: Giá tiêu dùng trong các tháng cuối năm có xu hướng giảm nhưng so với cuối năm 2010 vốn còn ở mức cao (dự kiến năm 2011 tăng khoảng 18,5%).
5. Thu hút đầu tư, phát triển các thành phần kinh tế.
- Môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện, nhiều cơ chế chính sách không phù hợp được sửa đổi, theo hướng tinh giản, rõ ràng, minh bạch. Trong năm cấp mới và điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư cho 80 dự án, tổng số vốn đăng ký trên 2.400 tỷ đồng (trong đó 5 dự an đầu tư trực tiếp nước ngoài); rà soát thu hồi 27 dự án đầu tư trong nước do không triển khai thực hiện, tạm dừng 39 dự án thuỷ điện (trong đó thu hồi 8 dự án thủy điện do tiến độ thực hiện chậm, kém hiệu quả).
- Cấp mới đăng ký kinh doanh cho 161 doanh nghiệp, nâng số doanh nghiệp hiện có 1.907 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 12.013 tỷ đồng. Tuy nhiên do tình hình kinh doanh khó khăn có 26 doanh nghiệp giải thể, 42 doanh nghiệp xin tạm dừng hoạt động (tăng 12% so năm 2010); thực hiện kiểm tra rà soát 55 doanh nghiệp có dấu hiệu sản xuất kinh doanh không ổn định, qua kiểm tra thu hồi 37 doanh nghiệp, như vậy trong năm đã giải thể và thu hồi tổng số 86 doanh nghiệp. Công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 được rà soát triển khai theo quy định của Chính phủ.
6. Về văn hoá - xã hội.
- Giáo dựa và Đào tạo: Chất lượng giáo dục năm học 2010-2011 tiếp tục được nâng cao, số học sinh đạt giải trong các kỳ thi cấp tỉnh, cấp quốc tăng 15 % so CK sovới năm học trước, tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2011 an toàn, đúng qui chế, có 6.454 học sinh dự thi (tăng l,3%), tỷ lệ tốt nghiệp lớp 12 hệ trung học phổ thông đạt 92,21 % (tăng 9,21%), hệ giáo dục thường xuyên đạt 81,04% (tăng 31,63%). Thực hiện đề án kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012 được chú trọng thực hiện, tính đến hết năm 2011 đã hoàn thành 938 điểm trường, 2.131 phòng học, 2.125 phòng công vụ giáo viên.
Năm học 2010 - 2011 là năm đầu tiên thực hiện Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi . Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2012 - 2013 đạt chuẩn đề ra, góp phần nâng cao chất lượng, chăm sóc, giáo dục trẻ, tạo mọi điều kiện để tất cả các trẻ mầm non đều được đến trường; chuẩn bị tốt tâm lý và kiến thức cho trẻ vào lớp 1, đảm bảo tỷ lệ huy động trẻ ra lớp được nâng lên. Tiến hành thực hiện rà soát danh mục các trường học, phòng học để phê duyệt, đầu tư ngay trong năm 2011.
- Hoạt động văn hoá, thể thao, thông tin, truyền thôn: Phong trào văn hoá văn nghệ, TDTT ở cơ sở tiếp tục phát triển, thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị của đất nước và cửa tỉnh (Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ Xi, bầu cử Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 -2016, kỷ niệm 20 năm ngày tái lập tỉnh Lào Cai . . .). Tổ chức thành công hội thi thể thao các dân tộc thiêu số tỉnh Lào Cai lần thứ IV năm 2011; thực hiện được 8 giải thi đấu cấp tỉnh, tham gia 24/25 giải đấu toàn quốc và khu vực giành được 72 huy chương (18 HCV, 18 HCB, 36 HCĐ).
- Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng quan tâm: Các chương trình y tế được đẩy mạnh triển khai, hệ thống bệnh viện các tuyến được chú trọng quan tâm và đầu tư bằng nhiều nguồn vốn (vốn cải tạo nâng cấp hệ thống y tế tỉnh huyện, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ODA. . .). Đến nay nhiều công trình được đầu tư và đang trong giai đoạn hoàn thành: Xây mới, cải tạo nâng cấp giai đoạn 2 cho 7/8 bệnh viện đa khoa huyện; mua sắm trang thiết bị cho 11 phòng khám đa khoa khu vực, Bệnh viện đa khoa tỉnh. . . Năm 2011 , toàn tỉnh 100% dân số có bảo hiểm y tế được khám chữa bệnh; công suất sử dụng giường bệnh bình quân tại các bệnh viện đạt 130%; tại phòng khám đa khoa khu vực đạt 92,6%. Thực hiện tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt kế hoạch.
- Công tác xóa đói giảm nghèo: Các cấp, các ngành đã tích cực triển khai các chính sách đối với hộ nghèo: Hỗ trợ nhà ở cho 24 hộ; 856 hộ nghèo vay vốn với số tiền 19,67 tỷ đồng (lũy kế dư nợ đạt 589 tỷ đồng với 39.584 hộ). Tỷ lệ hộ nghèo trong năm 2011giảm 5,72%, tỷ lệ còn lại 37,28%.
- Công tác đào tạo và giải quyết việc làm: Năm 2011 thực hiện tuyển sinh và đạo tạo nghề cho 12.200 lao động, đạt KH; công tác giải quyết việc làm cho người lao động được chú trọng, đã giải quyết việc làm mới cho 10.500 lao động, đạt KH. Tăng cường hỗ trợ lao động Ly bia về nước trước thời hạn ổn định đời sống, đưa 2 15 lao động đi xuất khẩu lao động, trong đó có 189 lao động của huyện 30a.
- An sinh xã hội và thực hiện chính sách xã hội: Thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với các gia đình chính sách, người có công với cách mạng; các đối tượng xã hội, các xã khó khăn, gia đình nữ nghèo, cứu đói giáp hạt được quan tâm, tổ chức cấp phát 835,315 tấn gạo hỗ trợ của Chính phủ, của tỉnh cho nhân dân dịp Tết và giáp hạt, 19 tấn gạo của tỉnh trong đợt lũ quét xảy ra tháng 5/2011. Triển khai có hiệu quả các nội dung đầu tư hỗ trợ cho 3 huyện nghèo Bắc Hà, Mường Khương, Si Ma Cai theo Nghị quyết 30a của Chính Phủ. Bàn giao đưa vào sử dụng 128 căn hộ nhà ở cho người có thu nhập thấp, triển khai xây dựng một số dự án nhà ở tại khu đô thị mới.
7. Hoạt động khoa học, công nghệ. Tập trung triển khai các đề tài chuyển tiếp, tích cực chuyển giao, ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tế. Năm 2011 thực hiện 27 đề tài, dự án nghiên cứu khoa học; 04 dự án chuyển tiếp. Theo dõi việc quản lý, sử dụng 148.548 phương tiện đo các loại đang được các tổ chức cá nhân sử dụng trên địa bàn tỉnh. Năm 2011 thực hiện kiểm định 3.192 phương tiện đo các loại.
8. Tài nguyên môi trường: Công tác bảo vệ môi trường, công tác quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước luôn được quan tâm chỉ đạo thực hiện. Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản đảm bảo đúng quy hoạch, tập trung và đóng góp đáng kể vào nguồn thu của tỉnh. Công tác bảo vệ môi trường được chú trọng; hoạt động thu gom, xử lý chất thải rắn, chất thải y tế, nước thải được quan tâm đầu tư. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác quy hoạch sử dụng đất -giai đoạn 201 1- 2020; năm 2011 thực hiện đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 500 tổ chức với diện tích 12.579 ha, đạt KH giao và 4.414 hộ gia đình, cá nhân với diện tích 163,9 ha, vượt 8,9% KH.
9. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng, chống tham nhũng: Thực hành tiết kiệm chống lãng phí luôn được UBND tỉnh quan tâm, chỉ đạo; năm 2011 các cấp, các ngành đã tiến hành 50 cuộc thanh tra, kiểm tra trên các lĩnh vực kinh tế -xã hội, qua thanh tra đã phát hiện sai phạm, kiến nghị xử lý thu hồi nộp ngân sách 7,7 tỷ đồng. Công tác phòng, chống tham nhũng được các ngành, các cấp thường xuyên quan tâm, tuyên truyền nâng cao nhận thức về phòng, chống tham nhũng trong cán bộ, công chức và nhân dân.
10. Xây dựng chính quyền, cải cách hành chính, thi đua khen thưởng
Tổ chức thành công bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu HĐND các cấp trên địa bàn, tỷ lệ cử tri toàn tỉnh đi bỏ phiếu đạt 99,98%; kiện toàn bộ máy nhiệm kỳ mới các cấp. Triển khai dự án thí điểm tuyển chọn tri thức trẻ làm Phó chủ tịch các xã thuộc 3 huyện nghèo Bắc Hà, Mường Khương, SiMaCai. Ban hành quy chế làm việc đối với công chức được luân chuyển, tăng cường tri thức trẻ, cán bộ kỹ thuật về công tác tại các xã theo Nghị quyết 30a của Chính phủ, quyết định hợp đồng với 50 cán bộ công tác tại các xã theo Nghị quyết 30a. Công tác đào tạo cán bộ, công chức được triển khai theo kế hoạch, đã đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị 9.990 người, bằng 99% KH; bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước:.6476 người đạt KH; nâng cao chuyên môn và nghiệp vụ 20.264 người; bằng 77,3% KH. Thực hiện điều động cán bộ thuộc diện UBND tỉnh quản lý, cấp huyện quản lý đúng quy định; thực hiện tốt công tác bổ nhiệm các trưởng, phó phòng, tuyển dụng công chức, viên chức...
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các nội dung giai đoạn tiếp theo của đề án 30 về cải cách thủ tục hành chính, trong đó tập trung thực hiện có hiệu quả kế hoạch cải cách hành chính theo cơ chế một cửa, gắn với đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động.của các cơ quan nhà nước. Triển khai đánh giá các đơn vị áp dựng thực hiện hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9001=2008 trên địa bàn tỉnh 2008-2010.
Công tác thi đua khen thưởng được triển khai sâu rộng, tổ chức tổng kết công tác thi đua khen thưởng năm 2011, phát động nhiều phong trào thi đua ở cơ sở; có 01 tập thể, 01 cá nhân được tăng huân chương lao động hạng nhất, 15 tập thể và 51 cá nhân được tặng huân cương lao động hạng nhì và hạng ba, 38 tập thể và 76 cá nhân được tặng thưởng Huân chương, bằng khen các loại; Chủ tịch UBND tỉnh tặng cờ thi đua cho 93 tập thể, tặng bằng khen cho 340 tập thể và 1594 cá nhân, công nhận danh hiệu tập thể lao động xuất sắc cho 123 tập thể có nhiều thành tích trong các phong trào thi đua năm 2011.
11. Quốc phòng – An ninh và đối ngoại
- Quốc phòng tiếp tục được củng cố và giữ vững, an ninh biên giới ổn định.
- An ninh,trật tự an toàn xã hội: Tích cực triển khai kế hoạch đảm bảo an ninh; quản lý tốt công tác đi cư tự do, phụ nữ bỏ đi khỏi địa bàn, giải quyết bức xúc trong dân; nắm bắt chặt chẽ các đối tượng hình sự, ma tuý, thực hiện quyết liệt các biện pháp nghiệp vụ tấn công trấn áp tội phạm, điều tra án, bắt giữ kịp thời đối tượng gây án.
- Hoạt động đối ngoại tiếp tục được mở rộng, quan hệ hợp tác với tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, các tổ chức quốc tế, các Đại sứ quán tại Việt Nam; các tỉnh, thành phố trong nước ngày càng đi vào chiều sâu và trên nhiều lĩnh vực. Có 126 đoàn tới làm việc và hoạt động tại tỉnh (nhiều hơn 58 đoàn so CK), có 76 đoàn cán bộ trong nước đi công tác tại các nước để tham gia hội đàm, trao đổi công tác quảng bá, xúc tiến đầu tư, giao lưu hữu nghị, tham quan, khảo sát, học tập kinh nghiệm.