Các xu hướng biến đổi lễ hội hiện nay và giải pháp quản lý   (10/01/2013 )
Quản lý lễ hội là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách. Càng cấp bách hơn khi sự “bùng nổ” của lễ hội trong những năm gần đây đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hóa, xã hội.
 
Các xu hướng biến đổi lễ hội cổ truyền hiện nay:
Lễ hội hiện nay có xu hướng biến đổi mạnh mẽ, bên cạnh lễ hội cổ truyền đang bị tác động bởi nhiều yếu tố kinh tế xã hội đương đại nên biến đổi, còn xuất hiện việc tổ chức các sự kiện, festival hiện đại. Vì vậy khái niệm lễ hội cổ truyền chỉ là khái niệm tương đối vì hầu hết các thành tố, thậm chí cả chức năng của lễ hội cũng thay đổi.
Về thời gian tổ chức lễ hội: có hai xu hướng biến đổi. Một số lễ hội làng, lễ hội cổ truyền ở miền núi không kéo dài về thời gian. Trước kia một lễ hội Gầu Tào vùng người Hmông, một lễ hội Roóng Poọc vùng người Giáy, lễ hội Lồng Tồng (xuống đồng) vùng người Tày thường tổ chức từ 3 đến 5 ngày thì nay chỉ tổ chức trong nửa ngày hoặc kéo dài đến hai, ba ngày. Nhưng mặt khác có một số lễ hội cổ truyền kéo dài hàng tháng hoặc vài tháng trời như hội Chùa Hương, hội Bà Chúa Xứ, hội Đền Hùng,...
Không gian lễ hội cũng mở rộng. Trước đây các hội làng chỉ được tổ chức ở một không gian nhất định trong làng và phạm vi, quy mô tổ chức cũng chỉ của làng. Nhưng hiện nay, do nhiều yếu tố nên quy mô của các hội làng cũng được mở rộng cả về không gian và thời gian. Nhiều lễ hội không còn là lễ hội làng mà đang có xu hướng biến thành lễ hội vùng, thậm chí là lễ hội chung của huyện. Đối tượng người đến dự hội không chỉ là dân làng, không chỉ là một dân tộc mà là nhiều dân tộc, có cả du khách nước ngoài tham dự. Lễ hội Gầu Tào ở Pha Long, huyện Mường Khương, Lào Cai trước đây chỉ là lễ hội của vùng Pha Long nhưng ngày nay đã trở thành lễ hội chung của người Hmông ở các huyện miền đông tỉnh Lào Cai. Lễ hội Gầu Tào không chỉ thu hút người Hmông ở huyện Mường Khương, Bắc Hà ở Lào Cai mà còn thu hút người Hmông ở huyện Sín Mần, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang và cả cư dân người Hmông ở châu Vân Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc cũng như người Hmông ở vùng Thượng Lào và người Hmông phía bắc Thái Lan về dự. Đối tượng người tham dự lễ hội càng ngày càng có xu hướng tăng nhanh. Năm 2000, lễ hội Gầu Tào của người Hmông ở Pha Long chỉ có khoảng 500 người tham dự thì đến năm 2011 đã có hàng vạn người tham dự. Lễ hội Chùa Hương đầu thế kỷ XXI thu hút được vài chục vạn người nhưng đến năm 2008 đã đón 1,3 triệu lượt khách và đến năm 2012 đón khoảng 2 triệu lượt khách. Một lễ hội Roóng Poọc của người Giáy thôn Tả Van, huyện Sa Pa từ cuối thế kỷ XX trở về trước chỉ là hội làng, có vài trăm người tham dự nhưng đến nay đã trở thành lễ hội của cả vùng hạ huyện Sa Pa. Chủ nhân của lễ hội trước đây là người Giáy thì đến giờ bên cạnh người Giáy còn có cộng đồng người Hmông, Dao, Tày cùng tham gia tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí trong lễ hội. Đặc biệt, sau khi được quảng bá trên các trang web du lịch thì lễ hội Roóng Poọc đã trở thành điểm đến của hàng trăm du khách với nhiều quốc tịch khác nhau. Như vậy, quy mô của lễ hội ngày càng mở rộng cả về số lượng người tham gia đã gây sự quá tải về không gian tổ chức lễ hội. Các cánh đồng tổ chức lễ hội xuống đồng cổ xưa hay các ngọn đồi tổ chức lễ hội Gầu Tào của thế kỷ XX cũng như sân đình làng ở vùng đồng bằng đều trở nên quá tải khi đón hàng vạn du khách tham dự. Từ sự quá tải này đã nảy sinh hàng loạt những vấn đề bức xúc về vệ sinh môi trường, sự chen lấn xô đẩy, quá tải các dịch vụ ăn, nghỉ, hành lễ, về cách điều hành tổ chức (ban tổ chức bất lực trong tổ chức các chương trình lễ hội),...
Chủ thể lễ hội: Trước đây trong các lễ hội làng cổ truyền, người dân thực sự là chủ thể của lễ hội. Các hội làng hầu hết do chủ làng và hội đồng quản lý của làng thực hiện. Nhưng hiện nay, hầu hết các lễ hội ở làng quê, miền núi đều do chính quyền các cấp chỉ đạo sát sao. Nhiều lễ hội đồng bằng, ban tổ chức thuê các công ty sự kiện, các đoàn nghệ thuật đứng ra dàn dựng chương trình, đứng ra làm dịch vụ tổ chức. Người dân, chủ thể của lễ hội, bị “gạt ra rìa” và chỉ đóng vai trò thụ động như các du khách. Thậm chí có tỉnh tổ chức festival nhưng từ việc trang trí khánh tiết, biểu diễn nghệ thuật, tổ chức các hoạt động đều không cần sự tham gia của ngành văn hóa, thể thao. Hoặc nếu ngành văn hóa được tham gia thì cũng với tư cách đi làm thuê cho các công ty sự kiện. Như vậy, vai trò của cộng đồng địa phương, vai trò của người dân – chủ thể sáng tạo của lễ hội cổ truyền, đã bị đánh mất.
Lễ hội cổ truyền đang có xu hướng biến đổi cả về mục đích, chức năng và cấu trúc. Mục đích của các hội làng là cầu người yên vật thịnh, lễ hội được tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh, nhu cầu vui chơi, giải trí của người dân trong thời điểm nông nhàn. Nhưng hiện nay, do tác động của cơ chế thị trường, lễ hội lại có mục đích quảng cáo cho các thành thị và địa phương, hoặc là nơi cầu may rủi, cầu lợi lộc cho cá nhân, cầu thăng quan tiến chức,... Biến đổi của lễ hội còn thể hiện ở sự nghèo nàn, đơn điệu trong các hình thức giải trí nhưng lại cực đoan, “nở rộ” trong các hình thức tín ngưỡng, mê tín. Quan hệ giữa ban tổ chức lễ hội và du khách thập phương là quan hệ dịch vụ, tận thu được nhiều nguồn tiền, dẫn đến tình trạng “chặt chém” ở các dịch vụ ăn nghỉ.
Lễ hội hiện nay có phổ biến được xem xét dưới góc độ cấu trúc. Lễ hội có hai phần: phần lễ và phần hội (dẫu sao cách xem xét dưới góc độ cấu trúc như vậy chưa hẳn thỏa đáng vì bản chất phần hội cũng đan xen, hướng theo phần lễ). Nhưng hiện nay, xuất hiện rất nhiều hình thức mít – tinh kỷ niệm không có “phần hội”, không có sự tham gia của cộng đồng mà chỉ là sự kiện của chính quyền cũng gọi là lễ hội. Hoặc có sự kiện chỉ mang tính hội hè nhằm quảng bá tới du khách, người mua hàng mà vẫn gọi là lễ hội... Như vậy, cấu trúc của lễ hội cũng biến dạng.
Trong khoảng hơn 20 năm qua, ở nước ta “nở rộ” một số loại hình sự kiện, nhiều người cho rằng đó là lễ hội mới và cũng được các cơ quan thông tin báo chí, các nhà quản lý đặt tên là lễ hội. Ví dụ như các sự kiện (event), mít – tinh kỷ niệm ngày giải phóng, ngày thành lập tỉnh, kỷ niệm “sinh nhật” của một địa phương đều gọi là lễ hội. Hoặc lễ hội được hiểu như một chương trình nghệ thuật (các màn nghệ thuật khai mạc hoặc minh họa cho các sự kiện). Hay lễ hội lại được hiểu như cuộc biểu diễn đường phố (roadshow). Đặc biệt hiện nay loại hình festival phát triển khá mạnh cũng đều gọi là lễ hội như lễ hội trái cây Nam Bộ, lễ hội hoa Đà Lạt, các lễ hội gắn với năm du lịch quốc gia, kỷ niệm về một sự kiện lịch sử nào đó. Như vậy, về thuật ngữ, nhiều nhà quản lý, cơ quan thông tấn báo chí dùng không chính xác, chỉ là một cuộc mít – tinh kỷ niệm hay một chương trình nghệ thuật, kỷ niệm ngày thành lập địa phương nào đó không nên gọi là lễ hội. Thậm chí cũng cần phải phân biệt rõ giữa lễ hội và festival, phân biệt rõ lễ hội với việc tổ chức sự kiện...
Sự bùng nổ của việc tổ chức các sự kiện là nhu cầu tất yếu khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Việc tổ chức các sự kiện có nhiều ưu điểm như quảng bá được thương hiệu, quảng bá du lịch, đáp ứng nhu cầu của du khách về phát triển du lịch,... Một số địa phương nhờ tổ chức các sự kiện mà thu hút được lượng lớn du khách đến tham quan. Tổ chức các sự kiện thực sự là công cụ đòn bẩy để thu hút khách du lịch, tiêu thụ được nhiều hàng hóa của địa phương, tạo việc làm cho số đông người lao động,... Tuy nhiên, việc tổ chức các sự kiện cũng bộc lộ nhiều nhược điểm. Trước hết các sự kiện được tổ chức theo kiểu khoa trương. Thậm chí, thi đua làm lễ hội theo kiểu “con gà tức nhau tiếng gáy”. Một số địa phương không có tiềm năng, lợi thế về du lịch mạnh nhưng vẫn tổ chức sự kiện gọi là “lễ hội du lịch” hoặc là tổ chức theo kiểu “lễ sinh nhật” của địa phương, tiêu tốn hàng chục tỷ đồng. Các chương trình nghệ thuật được gọi là lễ hội lại na ná giống nhau…
Đề xuất một số giải pháp về quản lý lễ hội:
Trước thực trạng các xu hướng biến đổi của lễ hội đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay, xuất hiện hai luồng dư luận trái chiều. Một số cơ quan thông tin đại chúng cho rằng việc tổ chức lễ hội và quản lý lễ hội vô cùng lộn xộn, mất bản sắc văn hóa dân tộc, gây ra nhiều hậu quả tai hại và đề xuất các biện pháp mang tính hành chính như “cấm”, “bỏ”. Thậm chí có người chưa hiểu rõ xu hướng biến đổi của lễ hội là một yêu cầu khách quan khi chuyển sang cơ chế thị trường nên sốt ruột đề ra các giải pháp mang tính chất chữa cháy là chính. Hoặc cũng có khuynh hướng coi nhẹ vai trò quản lý nhà nước, cần để cho người dân tự do làm chủ, tự do tổ chức lễ hội. Cả hai luồng dư luận như vậy đều không đánh giá đúng thực tế. Từ kinh nghiệm tổ chức và quản lý lễ hội ở các tỉnh, chúng tôi đề xuất một số giải pháp như sau:
Về quan điểm: Cần nhận thức sự biến đổi của lễ hội cổ truyền cũng như xuất hiện nhiều loại hình tổ chức sự kiện mới là một yếu tố khách quan trong đời sống văn hóa hiện nay. Vì thế không nên có quan điểm cứng nhắc, lấy các nguyên lý tổ chức lễ hội truyền thống làm khuôn mẫu cho việc tổ chức các lễ hội, tổ chức các sự kiện như hiện tại. Ở lĩnh vực này cần bám sát thực tiễn, tổng kết thực tiễn trên cơ sở lý luận về quản lý văn hóa. Trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò chủ thể của cộng đồng người dân tổ chức lễ hội. Người dân phải được tham gia các quá trình tổ chức lễ hội, phải được trao quyền tổ chức lễ hội hiệu quả. Đồng thời cũng không coi nhẹ việc quản lý của nhà nước đối với lễ hội.
Đẩy mạnh nghiên cứu xu hướng biến đổi của lễ hội và tổ chức sự kiện nhằm dự báo sát với thực tiễn của tình hình lễ hội. Trong đó, cũng cần phân loại các loại hình lễ hội theo chức năng, hoặc theo quy mô lễ hội (như lễ hội cấp thôn làng, lễ hội vùng, lễ hội liên vùng, liên tỉnh). Trong thực tiễn, nhiều yếu tố tiêu cực, nhiều điểm hạn chế gây tác hại xấu đến đời sống văn hóa là việc không quản lý chặt chẽ loại hình tổ chức sự kiện mới (có nhiều người gọi là lễ hội hiện đại, lễ hội du lịch, hoặc festival). Đối với loại hình lễ hội mới, tổ chức các sự kiện, festival mới đòi hỏi phải xây dựng quy chế quản lý riêng, vừa chặt chẽ, khoa học, vừa phù hợp với thực tiễn chứ không cứng nhắc chủ quan theo ý kiến của nhà quản lý
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần tổng kết thực tiễn, hội thảo tranh thủ ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học để ban hành bản quy chế quản lý lễ hội thay cho quy chế quản lý lễ hội năm 2001 đã có nhiều điểm bất cập.
Về đào tạo nguồn nhân lực và tổ chức bộ máy quản lý lễ hội: hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp văn hóa nghệ thuật, du lịch các tỉnh cần có chương trình giảng dạy về việc tổ chức quản lý lễ hội, nhằm đào tạo các cán bộ quản lý văn hóa có trình độ và khả năng quản lý lễ hội, xử lý đúng các tình huống xảy ra trong công tác quản lý ở địa phương.
Kinh nghiệm thực tiễn ở các địa phương đã chỉ rõ vấn đề tổ chức lễ hội thành công hay không, hạn chế được những tiêu cực hay không đều phụ thuộc phần lớn ở ban tổ chức. Ban tổ chức lễ hội (và tổ chức các sự kiện) đóng một vai trò rất quan trọng, không thể thiếu được trong tổ chức lễ hội, vì thế dù là lễ hội của thôn làng cho đến lễ hội quốc gia đều cần phải có ban tổ chức. Tuy nhiên ban tổ chức cũng cần đề cao vai trò tự quản của người dân, tôn trọng cộng đồng, thu hút được toàn dân tham gia vào việc tổ chức, quản lý lễ hội.

TS. Trần Hữu Sơn