Thực trạng vấn đề xây dựng đời sống văn hoá cơ sở tỉnh Lào Cai  (29/02/2008 )

Lào Cai là tỉnh miền núi vùng cao biên giới gồm 9 huyện thành phố; 164 xã, phường, thị trấn; 2.089 khu dân cư. Đời sống kinh tế – xã hội Lào Cai tuy đã có bước phát triển so với năm 2000 trở về trước song vẫn còn nhiều khó khăn. Trình độ dân trí còn thấp, nhiều hủ tục lạc hậu trong đời sống văn hóa còn tồn tại dai dẳng trở thành vấn đề bức xúc và thách thức trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Vì vậy, tỉnh Lào Cai đã chú trọng đến việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đồng thời với việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế và giữ vững an ninh quốc phòng

Thực hiện sự chỉ đạo của TW, từ năm 2000 tỉnh Lào Cai đã phát động và thành lập Ban chỉ đạo Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa từ cấp tỉnh đến cơ sở xã, phường, thị trấn; Ban vận động khu dân cư, thành lập Tổ thư ký giúp việc ban chỉ đạo tỉnh, Phòng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tham mưu cho Thường trực BCĐ. Đồng thời ban hành nhiều văn bản, nghị quyết của Tỉnh uỷ, HĐND, quyết định của UBND và các kế hoạch của Ban chỉ đạo; các tiêu chí công nhận Gia đình, Làng bản cơ quan đơn vị văn hóa theo Quy chế của Bộ VHTT.

Ban hành quy định Thi đua Khen thưởng trong phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, đặc biệt là triển khai chương trình xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Khu dân cư, là một trong 7 chương trình trọng điểm hướng về cơ sở của tỉnh. Trong đó trọng tâm là đẩy mạnh xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, xã hội hoá các hoạt động văn hóa. Tổ chức các Hội nghị Sơ kết 2 năm, 5 năm thực hiện phong trào và sơ kết hàng năm về chương trình xây dựng đời sống văn hóa cơ sở khu dân cư để rút kinh nghiệm chỉ đạo; Hội nghị biểu dương gia đình văn hóa, làng văn hóa tiêu biểu xuất sắc....

Thực hiện sự chỉ đạo của tỉnh, các cơ quan ban ngành đoàn thể chức năng các cấp đã phối hợp triển khai thực hiện đồng bộ từ công tác tuyên truyền vận động đến tập huấn đào tạo, đưa các hoạt động văn hóa chuyên nghiệp phục vụ cơ sở và tăng cường đưa cán bộ xuống giúp đỡ cơ sở... Nhờ vậy đã làm chuyển biến nhận thức về phong trào của các cấp uỷ, chính quyền cơ sở nhất là nhân dân, thu hút được mọi tầng lớp nhân dân đồng tình ủng hộ, tích cực tham gia thực hiện phong trào và gặt hái được nhiều kết quả đáng kích lệ, cụ thể là:

- Đã xây dựng ổn định bộ máy cán bộ làm công tác văn hóa chuyên trách và đẩy mạnh xã hội hóa xây dựng các thiết chế văn hóa ở cơ sở.

Đến nay tỉnh Lào Cai đã có bộ máy cán bộ văn hóa chuyên trách cơ sở với số lượng 164 người/164 xã, trong đó có 110 người đang đào tạo trung cấp chuyên nghiệp tại chức ở tỉnh. Kiện toàn, củng cố hoạt động 2.098 Ban vận động Khu dân cư, 388 chủ nhiệm nhà văn hóa xã phường, thôn bản được hưởng phụ cấp trách nhiệm từ nguồn ngân sách tỉnh. Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trong chương trình xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, từ năm 2002 – 2006 toàn tỉnh đã xây dựng được 388 nhà văn hóa cộng đồng thôn bản trong đó có 20 nhà văn hóa xã, 12 điểm bưu điện văn hóa xã, 4 thư viện xã, 11 phòng đọc sách ở các đồn biên phòng, 200 trường học có thư viện, tủ sách; cung cấp trang thiết bị hoạt động cho 5 đội thông tin lưu động huyện, 9 nhà văn hóa xã, 87 nhà văn hóa thôn bản. Năm 2007, tỉnh đã hỗ trợ kinh phí và vận động nhân dân quyên góp xây dựng 100 nhà văn hóa thôn bản. Ngoài ra, không tính các cơ quan, đơn vị, trường học... ở các cơ sở cũng xây dựng được 517 đội văn nghệ, 400 đội thể thao, 17 đơn vị nghệ thuật xã hội hoá...

- Các hoạt động thông tin tuyên truyền ở cơ sở được duy trì thường xuyên với nhiều hình thức khác nhau trong đó nổi bật là các hình thức: tuyên truyền miệng trực tiếp do các trưởng thôn bản, ban vận động khu dân cư, các tổ chức đoàn thể xã hội nghề nghiệp phổ biến; tuyên truyền qua hệ thống thông tin đại chúng như báo, đài phát thanh, truỳên thanh – truyền hình. Tất cả các xã, phường đều được nhà nước cấp kinh phí mua báo Nhân dân, Quân đội, Nông thôn ngày nay, báo Văn hóa. Riêng tỉnh Lào Cai có Báo Lào Cai, Lào Cai cuối tuần, báo ảnh Lào Cai; Văn nghệ Lào Cai; các tạp chí; bản tin nội bộ các ngành cung cấp đến các xã. Đặc biệt là tuyên truyền qua hệ thống thông tin lưu động, chiếu bóng lưu động, thông tin cổ động.... là hình thức hoạt động hấp dẫn và có hiệu quả.

- Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ngày càng được phát triển sâu rộng. Nếu năm 2002 toàn tỉnh (bao gồm cả huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu hiện nay) có 64.560 hộ gia đình văn hóa, 375 làng bản văn hóa, 390 cơ quan đơn vị văn hóa thì hết năm 2006 đã có 78.177 hộ gia đình văn hóa, 84 làng bản, tổ dân phố văn hóa; 964 cơ quan đơn vị văn hóa và có 13/26 điểm sáng văn hóa các xã biên giới. Tỷ lệ số hộ đói nghèo giảm mạnh, năm 2005 toàn tỉnh có 43,01% số hộ nghèo theo tiêu chí mới thì đến Quý I/2007 chỉ còn 31,3 % số hộ nghèo vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra (4,3 %/năm). Đặc biệt, xuất hiện nhiều mô hình gia đình làng bản văn hóa. Tiêu biểu là vùng du lịch đã xây dựng được 12 mô hình ở các huyện Sa Pa, Bắc Hà, Bảo Yên. Tại đây đã xây dựng được các nhà văn hóa thôn bản, đội văn nghệ dân gian. Tiêu biểu là làng văn hóa Bản Dền (Bản Hồ – Sa Pa) đã xây dựng được 3 đội văn nghệ dân gian, 29 hộ kinh doanh phòng nghỉ, 4 hộ dệt thổ cẩm đã góp phần phát triển kinh tế gia đình bình quân mỗi gia đình có thu nhập 40 triệu đồng/năm; 100 % số hộ gia đình đã ngói hoá và có thuỷ điện thắp sáng. �z các vùng đặc biệt khó khăn các làng bản cũng tự xây dựng được đội văn nghệ, đóng góp sức người, sức của với sự hỗ trợ của tỉnh xây dựng nhà văn hóa và tổ chức được các hoạt động văn hóa – thể thao phong phú để tự nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.

- Phong trào hoạt động văn hóa văn nghệ – thể dục thể thao ở cơ sở ngày càng được phát triển. Từ năm 2001 – 2006 bình quân mỗi năm tổ chức được 500 biểu diễn văn nghệ ở thôn bản; 300 buổi biểu diễn cấp xã. �z cấp tỉnh, huyện  hàng năm đều tổ chức hội diễn nghệ thuật quần chúng. Tiêu biểu năm 2004, 2006 đã tổ chức liên hoan văn nghệ đồng bào Hmông toàn tỉnh vùng đặc biệt khó khăn và các nhà văn hóa cộng đồng. Các cơ quan đơn vị, trường học, lực lượng vũ trang hàng năm đều tổ chức liên hoan văn nghệ 2 – 3 lần/năm. Điển hình là đội tuyên truyền văn hóa của Bộ đội biên phòng tỉnh trong 5 năm (2002 – 2006) đã phối hợp với các xã trên địa bàn đứng chân tổ chức được 500 buổi liên hoan văn nghệ góp phần xây dựng điểm sáng văn hoá biên giới... Ngoài ra tỉnh còn chỉ đạo các đơn vị đỡ đầu các xã khó khăn cử lực lượng thanh niên xung kích tăng cường giao lưu văn nghệ – thể thao trong các dịp lễ tết góp phần phát triển phong trào.

- Việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở cơ sở luôn được chú trọng. Tỉnh Lào Cai đã ban hành đề án “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc” và lồng ghép triển khai thực hiện vào tiêu chí công nhận các danh hiệu văn hóa. Các di sản văn hóa dân tộc được nghiên cứu sưu tầm bảo tồn kịp thời. Tỉnh đã tiến hành kiểm kê di sản văn hóa các dân tộc, nhiều di sản văn hóa như nghề thủ công, văn hóa ẩm thực, di tích lịch sử, văn nghệ dân gian, lễ hội... được khai thác phát huy trở thành nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội.

- Việc triển khai Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong cưới xin, tnag lễ, lễ hội của chính phủ có nhiều chuyển biến tích cực. Đến nay 75 % số đám cưới, đám tang thực hiện theo đúng quy định của tỉnh. Tình trạng thách cưới cao trong cưới xin, ăn uống linh đình trong tang lễ đồng bào các dân tộc đã được hạn chế.

Đặc biệt, việc cải tạo các hủ tục lạc hậu ở một số dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa được đẩy mạnh; các tệ nạn mê tín dị đoan, níu kéo ăn xin, bán hàng khách dự lễ hội được xoá bỏ.

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế tồn tại đó là:

- Việc chỉ đạo thực hiện chương trình xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của nhiều cấp uỷ đảng, chính quyền cơ sở chưa đồng bộ, việc công nhận các danh hiệu văn hóa ở vùng sâu vùng xa còn chưa đảm bảo chất lượng nhất là vệ sinh môi trường.

- Một số ít đồng bào dân tộc vùng sâu vùng xa còn tồn tại tình trạng cưới xin tảo hôn, để người chết ở nhà lâu ngày, ở vùng đô thị vẫn còn tổ chức cưới xin linh đình.

- Việc xã hội hoá xây dựng các thiết chế văn hóa nhiều huyện còn chậm, ỷ lại sự hỗ trợ của nhà nước hoặc mang tính hình thức không đảm bảo tiêu chuẩn quy định.

- Việc chỉ đạo xây dựng hương ước, quy chế khu dân cư của các ngành chức năng còn máy móc, rườm rà phức tạp không thực hiện được.

- Việc triển khai công tác thi đua khen thưởng trong các gia đình, làng bản văn hóa theo quy định của Luật Thi đua Khen thưởng gặp khó khăn vì không có quỹ.

- Nguyên nhân của các hạn chế này là do trình độ học vấn và chuyên môn hạn chế, nhiều cấp uỷ, chính quyền chưa nhận thức sâu sắc về phong trào nên chỉ đạo mang tính hình thức, phiến diện. Ban chỉ đạo cơ sở chưa phối hợp đồng bộ. Cán bộ chuyên trách phần lớn vẫn còn kiêm nhiệm, thiếu năng lực chuyên môn. Kinh phí cho hoạt động văn hóa và Thi đua Khen thưởng ở cơ sở quá ít chưa đáp ứng được yêu cầu...

Để khắc phục các hạn chế tồn tại trong thời gian tới cần phải thực hiện nhiều giải pháp thích hợp, trọng tâm là:

- Tăng cường nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền cơ sở, sự phối hợp đồng bộ của các ban ngành chức năng.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động với nhiều hình thức phong phú đa dạng. chú trọng vận động, tập huấn và sử dụng các già làng, trưởng bản, thầy mo, thầy cúng, nghệ nhân trong công tác tuyên truyền ở cơ sở.

- Tăng cường đưa các hoạt động văn hóa chuyên nghiệp phục vụ cơ sở, tăng cường cử cán bộ xuống giúp đỡ cơ sở, đào tạo, tập huấn chuyên môn cho cán bộ chuyên trách, trưởng thôn bản, chủ nhiệm nhà văn hóa ở cơ sở.

- Đẩy mạnh xã hội hoá, huy động sức dân vào việc xây dựng các thiết chế và hoạt động văn hóa ở cơ sở.

Đó là thực trạng và một số giải pháp quan trọng nhằm góp phần xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tỉnh Lào Cai, các cấp uỷ Đảng, Chính quyền và các ban ngành đoàn thể cơ sở cần lưu tâm hơn nữa để thực hiện tốt phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.