Trách nhiệm, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật về tài nguyên và môi trường trong công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất  (20/07/2011 )
 

Trách nhiệm, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật về tài nguyên và môi trường trong công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

------------

 

1. Trong giao đất, cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân:

- Về việc giao đất trồng cây hàng năm, đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, làm muối: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất nông nghiệp lập phương án giao đất và đề nghị Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao đất nông nghiệp đối với những địa phương chưa giao đất cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật về đất đai (khoản 2 Điều 17 Luật Đất đai).

- Lập Hội đồng tư vấn giao đất của địa phương, niêm yết công khai danh sách các trường hợp được giao đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời hạn mười lăm (15) ngày làm việc và tổ chức tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân; hoàn chỉnh phương án giao đất trình Hội đồng nhân dân cùng cấp  thông qua trước khi trình Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt (khoản 1 Điều 123 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP).

- Về việc giao đất, cho thuê đất trồng lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất vùng đệm của rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất nông nghiệp khác đối với hộ gia đình, cá nhân thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm:

+ Nhận đơn xin giao đất, thuê đất; dự án, báo cáo đánh giá tác động môi trường (nếu có) của hộ gia đình, cá nhân;

+ Thẩm định, ghi ý kiến xác nhận vào đơn xin giao đất, thuê đất về nhu cầu sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đối với trường hợp đủ điều kiện và gửi đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng Tài nguyên và Mội trường.

- Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn; không được ủy quyền việc cho thuê đất thuộc quỹ đất công ích này (khoản 3, 4 Điều 37 Luật Đất đai).

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm đề nghị việc giao đất sản xuất từ nguồn thu hồi từ nông nghiệp, lâm nghiệp cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định (Điều 6 Quyết định số 146/2005/QĐ-TTg ngày 15 tháng 6 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thu hồi đất sản xuất của các nông trường, lâm trường để giao cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo).

          - Trường hợp đã giao đất nông nghiệp vượt hạn mức, căn cứ vào hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai và quy định tại Điều 69 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân cấp xã rà soát, lập danh sách các hộ gia đình, cá nhân có diện tích đất nông nghiệp được giao vượt hạn mức và báo cáo Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để chi thuê theo quy định (Điều 71 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP).

          - Về việc giao đất làm nhà ở đối với hộ gia đình, cá nhân tại nông thôn không thuộc trường hợp phải đấu giá quyền sử dụng đất (Điều 124 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP)

          + Nhận đơn xin giao đất của hôn gia đình, cá nhân có nhu cầu sử dụng đất để làm nhà ở.

          + Lập phương án giao đất làm nhà ở gửi Hội đồng tư vấn giao đất của xã xem xét, đề xuất ý kiến đối với phương án giao đất; niêm yết công khai danh sách các trường hợp được giao đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã trong thời hạn mười lăm (15) ngày làm việc và tổ chức tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân; hoàn chỉnh phương án giao đất, lập hồ sơ xin giao đất gửi Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường;

          + Tổ chức bàn giao đất trên thực địa cho hộ gia đình, cá nhân đã có quyết định giao đất của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

          - Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm xác nhận nhu cầu sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thể hiện trong đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; xác nhận nhu cầu sử dụng đất của cộng đồng dân cư thể hiện trong đơn xin giao đất (khoản 2 Điều 27 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP).

          2. Đối với việc chuyển mục đích sử dụng đất, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm: Nhận hồ sơ đăng ký chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân tại nông thôn chuyển mục đích sử dụng đất không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chuyển cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và trả lại Giấy chứng nhận đã chỉnh lý hoặc hồ sơ (đối với trường hợp không được chuyển mục đích) cho người sử dụng đất (Điều 124 Luật Đất đai và Điều 113 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP).

          3. Trong việc thu hồi đất đối với trường hợp bị thu hồi theo quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 38 Luật Đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm:

          - Quản lý đất đã thu hồi thuộc khu vực nông thôn do cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất thực hiện việc thu hồi đất đối với các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 38 Luật Đất đai (khoản 3 Điều 41 Luật Đất đai);

          - Xác nhận không có người thừa kế đối với trường hợp thu hồi đất quy định tại khoản 7 Điều 38 của Luật Đất đai (khoản 2 Điều 132 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP).

          4. Trong việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm:

          - Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với chủ đầu tư phổ biến kế hoạch khảo sát, đo đạc cho người sử dụng đất trong khu vực dự án và yêu cầu người sử dụng đất tạo điều kiện để chủ đầu tư thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất để lập dự án đầu tư (khoản 3 Điều 29 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP);

          - Tổ chức tuyên truyền về mục đích thu hồi đất, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án;

          - Phối hợp với Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện xác nhận đất đai, tài sản của người bị thu hồi;

          - Phối hợp và tạo điều kiện hỗ trợ cho việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất và tạo điều kiện cho việc giải phóng mặt bằng (khoản 3 Điều 43 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP);

          - Ủy ban nhân dân cấp xã có đất bị thu hồi cử đại diện tham gia là thành viên Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp huyện do lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện làm Chủ tịch Hội đồng (khoản 2 Điều 25 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP);

          - Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã cùng với đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, đại diện những người có đất bị thu hồi xác nhận vào biên bản niêm yết công khai phương án bồi thường (khoản 2 Điều 30 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP);

          - Phối hợp với đại diện của tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và Ủy ban mặt trận Tổ quốc cấp xã nơi có đất thu hồi vận động thuyết phục người có đất bị thu hồi chấp hành việc bàn giao đất đã bị thu hồi cho Nhà nước (khoản 2 Điều 32 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP);

          - Xác nhận vào biên bản bàn giao đất giữa tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và người có đất bị thu hồi (khoản 2 Điều 29 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất – sau đây viết tắt là Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT);

          - Xác nhận là đất không có tranh chấp đối với các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (sau đây viết tắt là Nghị định số 197/2004/NĐ-CP), Điều 44, Điều 45 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai (sau đây viết tắt là Nghị định số 84/2007/NĐ-CP);

          -  Xác nhận cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, chùa, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ là đất không có tranh chấp (khoản 10 Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP);

          - Xác nhận đối với trường hợp diện tích đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất là do khai hoang hoặc nhận chuyển quyền của người sử dụng đất trước đó, đất đã sử dụng ổn định và không có tranh chấp (khoản 3 Điều 47 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP);

          - Xác nhận giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất và giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất (khoản 1 Điều 3 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT);

          - Xác nhận cho đối tượng được hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất là hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp theo quy định điểm a khoản 1 Điều 14 của Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT, nhưng chưa được giao đất nông nghiệp và đang sử dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng, cho, khai hoang theo quy định của pháp luật là đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp (khoản 1 Điều 14 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT)./.


Văn phòng Sở Tài nguyên và Môi trường