Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2013   (02/10/2013 )
Báo cáo ngày 27 tháng 9 năm 2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2013 (Tài liệu phục vụ họp báo của Chính phủ ngày 29/9/2013)
1. Về mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô
- Lạm phát được kiềm chế: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2013 tăng 1,06% so với tháng trước; trong đó: tăng cao nhất là nhóm giáo dục, tăng 9,38%; tiếp đến là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng, tăng 0,91%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,65% (riêng thực phẩm tăng 0,87%). Các nhóm hàng khác có CPI dao động trong khoảng 0,04-0,29%. Hai nhóm có CPI giảm là: giao thông giảm 0,24% và bưu chính viễn thông giảm 0,01%.
So với tháng 12/2012, CPI tháng 9/2013 tăng 4,63%, là mức tăng thấp nhất trong vòng 4 năm qua[1]. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 9/2013 tăng 6,3%; bình quân 9 tháng tăng 6,83%
- Về xuất nhập khẩu:9 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩuước đạt gần 96,5 tỷ USD, tăng 15,7%so với cùng kỳ năm 2012; tổng kim ngạch nhập khẩuước đạt gần 96,6 tỷ USD, tăng 15,5%; nhập siêu khoảng 124triệuUSD, bằng 0,1% tổng kim ngạch xuất khẩu.
- Về thu - chi ngân sách nhà nước: lũy kếđến 15/9/2013, tổng thu NSNN ước đạt 509,7nghìn tỷ đồng, đạt 62,5% dự toán năm; tổng chi NSNNước đạt 640,37 nghìn tỷ đồng, đạt65,5% dự toán năm.
-Về đầu tư phát triển: Tổng vốn đầu tư xã hội 9 tháng đầu năm 2013 ước thực hiện đạt 755,9 nghìn tỷ đồng, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2012.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký và thực hiện trong những tháng gần đây tiếp tục duy trì mức tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng đầu năm, vốn FDI thực hiệnước đạt 8,62 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2012; vốn đăng ký ước đạt trên 15 tỷ USD, tăng 36,1%.
Giải ngân vốn ODA 9 tháng đầu năm ước đạt 3,13 t USD, đạtkhoảng 69,5% dự kiến giải ngân năm 2013.
2. Về thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế
- Tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm ước đạt 5,14%, cao hơn mức tăng cùng kỳ năm trước (đạt 5,1%); trong đó: nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,39%; công nghiệp và xây dựng tăng 5,2%; dịch vụ tăng 6,25%.
Tốc độ tăng trưởng GDP tăng dần từ mức 4,76%[2] của Quý I/2013 lên 5% của Quý II và 5,54% của Quý III. Tuy tốc độ tăng trưởng GDP Quý III và 9 tháng đầu năm không cao như mong đợi nhưng là mức tăng khá hợp lý trong bối cảnh nền kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn, phải ưu tiên tập trung mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.
- Sản xuất công nghiệp tiếp tục có những chuyển biến tuyvẫn còn nhiều khó khăn: Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9, so với cùng kỳ, tăng 5,6%, cao hơn mức tăng 4,3% của cùng kỳ năm 2012; tính chung 9 tháng đầu năm IIP tăng 5,4%; trong đó: IIP ngành khai khoáng giảm 0,2%; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 6,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,3%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,5%.
Sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm ghi nhận sự hồi phục đáng kể của ngành công nghiệp chế biến chế tạo: IIP Quý I tăng 4,6%, sang Quý II tăng 6,9%, Quý III tăng 8%. Chỉ số tồn kho của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục xu hướng giảm dần kể từ đầu năm: tại thời điểm 01/9/2013 ước tăng 9,3% so với cùng thời điểm năm trước, giảm mạnh so với mức tăng 21,5% tại thời điểm 01/01/2013.
- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng vẫn duy trì phát triển ổn định: giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng khá cao ở mức 3,3% trong Quý III; tính chung 9 tháng tăng 2,7%, cao hơn mức tăng 2,4% của 6 tháng đầu năm; trong đó: nông nghiệp tăng 2,3%; lâm nghiệp tăng 5,6% và thủy sản tăng 3,4%.
Tính đến 15/9/2013, các tỉnh phía Nam đã thu hoạch được 1.894,6 nghìn ha lúa hè thu, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước; cả nước gieo cấy được 1.734,6 nghìn ha lúa mùa, tăng 1%. Tổng sản lượng thủy sản 9 tháng đầu năm ước đạt gần 4,5 triệu tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ, trong đó: nuôi trồng ước tăng 2,1%; khai thác ước tăng 3,4%.
- Về hoạt động thương mại và dịch vụ: trong 9 tháng đầu năm,tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2012; vận chuyển hàng hóa ước tăng 3,8%; luân chuyển hàng hóa ước giảm 2,4%;vận chuyển hành khách ước tăng 5,3%; luân chuyển hành khách ước tăng 5,1%. Khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt khoảng 5,5 triệu lượt, tăng 9,9%.
3. Về an sinh xã hội, y tế, văn hóa và các lĩnh vực xã hội khác
Về lao động, việc làm: trong 9 tháng đầu năm ước tạo việc làm cho khoảng 1,13 triệu người, đạt 70,6% kế hoạch năm; trong đó: tạo việc làm trong nước trên 1 triệu người, đạt 70,4% kế hoạch, bằng xấp xỉ cùng kỳ năm trước; xuất khẩu lao động khoảng 62,5 nghìn người, đạt 73,3%, tăng 7,6% so với cùng kỳ.
Lĩnh vực an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được quan tâm thực hiện tốt, như: hỗ trợ các hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ; tăng mức trợ cấp, phụ cấp đối với người có công với cách mạng; hỗ trợ cứu đói; thực hiện các giải pháp, chính sách giảm nghèo nhanh và bền vững; triển khai hỗ trợ cho vay mua nhà ở xã hội; điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu; thực hiện các giải pháp tổng thể nhằm giảm quá tải bệnh viện, cải cách tài chính y tế; nâng mức hỗ trợ mua thẻ BHYT cho người thuộc cận nghèo lên 70%...
Về tai nạn giao thông: trong 9 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 21.861 vụ tai nạn giao thông, gồm: 8.155 vụ ít nghiêm trọng trở lên, tăng 4,1%; 13.706 vụ va chạm, giảm 10,7%; làm chết 7.040 người, tăng 2,1%; làm 4.931 người bị thương, giảm 11,9% và 16.849 người bị thương nhẹ, giảm 10,9% so với cùng kỳ năm 2012. Mặc dù số vụ va chạm giao thông có giảm nhưng số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng và số người chết vẫn còn nhiều.
Đánh giá chung, trong 9 tháng đầu năm, dưới sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ, các cấp, các ngànhđã tích cực triển khai thực hiện các giải pháp đã đề ra trong các Nghị quyết số 01/NQ-CP, số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013,Nghị quyết các phiên họp thường kỳ của Chính phủ và các văn bản chỉ đạo điều hành của Thủ tướng Chính phủ. Nhờ vậy, tình hình kinh tế - xã hội đã có những chuyển biến tích cực, đúng hướng. Nền kinh tế dần phục hồi với tốc độ tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước; mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ môđạtnhiều kết quả.Lãi suất giảm dần; tăng trưởng tín dụng tiếp tục những chuyển biến khả quan. Sản xuất công nghiệp, tuy còn khó khăn, nhưng đã có nhưng cải thiện đáng kể, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo. Sản xuất nông nghiệp, tuy có tăng trưởng chậm lại trong Quý II nhưng đã tăng trở lại trong Quý III/2013. Lĩnh vực dịch vụ duy trì đà tăng trưởng khá. Xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng cao hơn kế hoạch đề ra, nhập khẩu cải thiện,tỷ lệ nhập siêu thấp. Giải ngân vốn ODA đạt khá, vốn FDI đăng ký và thực hiện cao hơn cùng kỳ. Các chính sách về giải quyết việc làm, an sinh và phúc lợi xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện; an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững.
Tuy nhiên, nền kinh tế phục hồi nhưng chưa thực sự vững chắc; lạm phát tuy được kiềm chế nhưng đã có dấu hiệu tăng trở lại; tiến độ thu NSNN đạt thấp so với kế hoạch. Thị trường và sức mua có chuyển biến nhưng chậm và thấp hơn cùng kỳ. Hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn còn nhiều khó khăn, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động vẫn còn cao. Đời sống của một bộ phận dân cư gặp khó khăn. Tình hình trật tự an toàn giao thông, tệ nạn xã hội vẫn còn diễn biến phức tạp./.
 


[1] So với tháng 12 năm trước, CPI tháng 9 các năm 2010-2012 dao động trong khoảng 6,02-16,63%.
[2] Số thống kê lại, trước đó ước tính Quý I/2013 tăng khoảng 4,89%.
Tệp đính kèm
Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân - Bộ Kế hoạch và Đầu tư