Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc trong cả năm 2009  (21/01/2010 )

Theo số liệu công bố của Tổng cục Hải quan Trung Quốc, trong năm 2009 tổng kim ngạch XNK của Trung Quốc đạt 2.207,27 tỷ USD, giảm 13,9% so với năm 2008, cao hơn một chút so với năm 2007. Trong đó, XK đạt 1.201,67 tỷ USD, giảm 16%; NK đạt 1.005,6 tỷ USD, giảm 11,2%. Cả năm xuất siêu thương mại đạt 196,07 tỷ USD, giảm 34,2%.

Trong tháng 12/2009, kim ngạch XNK của Trung Quốc tăng mạnh, giá trị XNK đạt 243,02 tỷ USD, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm trước, tăng 16,7% so với tháng 11/2009. Trong đó, XK đạt 130,73 tỷ USD, tăng 17,7%, tăng 15% so với tháng 11/2009; NK đạt 112,29 tỷ USD, đạt mức NK cao nhất trong thời gian một tháng, tăng 55,9% so với cùng kỳ năm trước và tăng 18,8% so với tháng 11/2009.

Do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ quốc tế, ngoại thương của Trung Quốc liên tục giảm mạnh từ tháng 11/2008 đến nay, đến tháng 3/2009 mới bắt đầu hồi phục trở lại, đến tháng 8/2009 xu hướng hồi phục được xác định về cơ bản, đến tháng 11/2009 kim ngạch XNK bắt đầu tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước, đến tháng 12/2009 cả NK lẫn XK đều tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước và tăng mạnh so với tháng 11/2009, giá trị NK trong tháng đạt mức cao kỷ lục, giá trị XK trong tháng đạt mức cao thứ 4 trong lịch sử, điều này chứng tỏ ngoại thương Trung Quốc đang tăng tốc hồi phục. Đồng thời, việc NK tăng mạnh, chứng tỏ hiệu quả của chính sách kích thích kinh tế đã được thể hiện, nội nhu tương đối mạnh, điều này cũng có lợi cho việc thúc đẩy kinh tế thế giới khôi phục.
 
 Trong quan hệ thương mại song phương với các bạn hàng chủ yếu, năm 2009 EU là bạn hàng lớn nhất của Trung Quốc, với tổng kim ngạch thương mại song phương đạt 364,09 tỷ USD, giảm 14,5%. Mỹ là bạn hàng lớn thứ 2 của Trung Quốc với tổng kim ngạch thương mại song phương đạt 298,26 tỷ USD, giảm 10,6%. Nhật Bản là bạn hàng lớn thứ 3 của Trung Quốc với tổng kim ngạch mậu dịch song phương đạt 228,85 tỷ USD, giảm 14,2%. Kim ngạch XNK giữa Trung Quốc và Việt Nam trong tháng 12 và cả năm 2009 đạt lần lượt là 2,62 tỷ USD và 21,04 tỷ USD, tăng lũy kế là 8,2%; Trong đó, Trung Quốc XK đạt lần lượt là 2,09 tỷ và 16,30 tỷ USD, tăng lũy kế là 7,8%; Việt Nam XK đạt lần lượt là 0,52 tỷ USD và 4,74 tỷ USD, tăng lũy kế là 9,5%. Việt Nam nhập siêu trong năm 2009 là 11,56 tỷ USD.
 
 Xét tình hình trong nước, các địa phương đều tích cực ổn định ngoại nhu, đẩy mạnh XK. Theo thống kê của hải quan Trung Quốc, trong tháng 12/2009, XK của Quảng Đông đạt 39,97 tỷ USD, tăng 23,5% so với cùng kỳ năm trước và tăng 15,2% so với tháng 11/2009; Kim ngạch XK của 3 tỉnh thành là Giang Tô, Thượng Hải và Triết Giang trong tháng 12/2009 đều vượt mức 10 tỷ USD, với kim ngạch đạt lần lượt là 20,35 tỷ USD, 15,21 tỷ USD và 13,61 tỷ USD, tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước lần lượt là 17,6%, 23,8% và 14,3%, tăng trưởng so với tháng 11//2009 lần lượt là 4,5%, 13,1% và 20,3%. Cũng trong tháng 12/2009, kim ngạch XK của Sơn Đông, Phúc Kiến và Bắc Kinh đạt lần lượt là 8,09 tỷ USD, 5,71 tỷ USD và 5,01 tỷ USD, tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước lần lượt là 15,3%, 23,2% và 6,5%, tăng trưởng so với tháng 11/2009 đạt lần lượt là 7,4%, 20,6% và 10,1%.
 
 Năm 2009, trong các mặt hàng XK, kể từ tháng 8/2008 Trung Quốc đã 7 lần điều chỉnh tỷ lệ hoàn thuế XK liên quan đến 676,02 tỷ USD trị giá hàng hóa XK, giảm 16,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, mức giảm XK hàng hóa có mật độ tập trung lao động cao đều thấp hơn so với mức giảm 16% của tổng thể XK cùng kỳ, điều này đóng góp cho việc bảo đảm đời sống dân sinh và tạo ra công ăn việc làm. Theo số liệu thống kê của hải quan, trong tháng 12/2009, XK đạt kết quả tốt. Trong tháng 12/2009, XK sản phẩm cơ điện đạt 78,05 tỷ USD, tăng 26,9%; XK mặt hàng dệt đạt 6,22 tỷ USD, tăng 25,2%; XK dụng cụ gia đình đạt 3,09 tỷ USD, tăng 10,8%; XK đồ chơi đạt 0,62 tỷ USD, tăng 4,4%; XK valy, túi xách đạt 1,48 tỷ USD, tăng 1,9%; XK giày dép đạt 2,82 tỷ USD, giảm 2,2%; XK đồ may mặc đạt 10,57 tỷ USD, giảm 4,8%.
 
 Năm 2009, trong các mặt hàng NK, việc NK các mặt hàng có số lượng lớn đều tăng với mức độ khác nhau; Trong đó, NK quặng sắt đạt 630 triệu tấn, tăng 41,6%, giá NK bình quân là 79,9 USD/tấn, giảm 41,7%; NK dầu thô đạt 200 triệu tấn, tăng 13,9%, giá NK bình quân là 438 USD/tấn, giảm 39,4%; NK đậu tương đạt 42,55 triệu tấn, tăng 13,7%, giá NK bình quân là 441,5 USD/tấn, giảm 24,3%. NK mặt hàng cơ điện trong cả năm đạt 491,47 tỷ USD, giảm 8,7%; Trong đó, NK ô tô đạt 419 ngàn chiếc, tăng 2,8%.

Thương vụ Việt Nam tại Trung Quốc