Bỏ qua liên kết điều hướng
 
MẠCH HỒNG MƯỜNG HUM  (31/01/2012 )
 

Năm nào cũng vậy, cứ những ngày áp tết, tôi cùng bạn bè lại có cái thú lên các bản làng vùng cao Lào Cai dạo chơi, xem không khí đồng bào  chuẩn bị đón xuân ra sao và ngắm hoa đào núi. Năm nay, mặc dù lời mời gọi của Sa Pa, Bắc Hà rất hấp dẫn, nhưng đổi lịch trình một chút, chúng tôi về Mường Hum trên thượng huyện Bát Xát.

 

Mường Hum nay vẫn mang trong lòng những nét xưa, nhưng trong âm thanh rì rầm của dòng suối trong xanh dưới chân núi Ky Quan San, một mạch sống hồng tươi rạo rực đang trỗi dậy từng ngày… 

 

 Bình yên phố núi Mường Hum. 

Nhắc đến Mường Hum xưa, nhân dân Lào Cai, Bát Xát không bao giờ quên được mảnh đất của những đau thương, nhưng kiên cường, quật khởi. Lịch sử của Mường Hum là lịch sử của một quá trình đấu tranh bền bỉ chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp, rồi phát xít Nhật, Tưởng Giới Thạch, sau lại đến bọn phỉ khát máu. Chịu nhiều đau thương, mất mát, nhưng chưa bao giờ các dân tộc Mường Hum cam chịu làm tay sai cho giặc mà luôn nuôi trong lòng ngọn lửa căm hờn, vùng lên đấu tranh giải phóng quê hương. Khi đất nước giành độc lập, nhân dân Mường Hum lại hồ hởi bước vào công cuộc đổi mới, xây dựng bản làng, tuyên chiến với giặc đói và giặc dốt. Mấy chục năm qua, bàn tay lao động cần cù của người Dao, Giáy, Mông… khắp các thôn, bản đã biến núi đá khô cằn thành nương ngô, nương lúa màu mỡ, biến những triền đồi dốc thành ruộng bậc thang xanh tốt, đào mương dẫn nước, xẻ núi mở đường, dựng cửa dựng nhà, xây trường, xây chợ… làm nên phố núi bình yên.

Về Mường Hum hôm nay, sau những bâng khuâng nhớ Mường Hum của một thời đã qua, ta cảm nhận ngay được một sức sống mới đang trỗi dậy mãnh liệt từng giờ, từng phút. Chuyện xã, chuyện thôn, chuyện làm ăn buôn bán, chuyện chăn nuôi, trồng trọt của nhân dân cứ như chuyện trong "ngàn lẻ một đêm", kể mãi, nghe mãi mà không hết, không chán. Chủ tịch UBND xã Tẩn Kim Vảng pha ấm chè mới, rót ra chén thứ nước vàng sóng sánh nghi ngút khói, thơm nức phòng mời: Chè Bát Tiên ở núi Ky Quan San, nhân dân trồng và tự sao đấy, chú uống thử xem? Quả là chè ngon, đậm đà, nhấp một ngụm mà hương thơm ngây ngất, vị ngọt còn đọng mãi ở đầu lưỡi. Trong câu chuyện, anh Vảng bảo cây chè bén rễ trên đất Mường Hum đã ngót chục năm nay, hợp với khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương nên sinh trưởng, phát triển tốt và đặc biệt là cho năng suất, chất lượng cao. Nhớ lại ngày đầu xã vận động nhân dân chuyển một số diện tích nương sắn kém hiệu quả sang trồng chè, một số hộ còn e ngại, có 28 hộ dân mạnh dạn trồng được hơn 30 ha. Vậy mà bây giờ, Mường Hum đã sở hữu trên 100 ha chè với hai loại là Tuyết Shan và Bát Tiên đặc sản. Vui quá, phấn khởi quá chứ! 34 ha chè đang cho thu hoạch với năng suất bình quân mỗi năm đạt 7,5 tấn/ha tính sơ sơ cũng đem về cho xã trên 250 tấn búp. Chè Tuyết Shan loại A bán 4.500 đồng đến 5.000 đồng/kg búp tươi; chè Bát Tiên giá cao gấp đôi. Ngoài cung ứng chè búp tươi cho doanh nghiệp về tận nơi thu mua, nhân dân còn biết sản xuất chè tại địa phương bằng máy sao mini. Chè Bát Tiên sau khi sao xong bán với giá 250.000 đồng/kg mà luôn "cháy hàng" trước nhu cầu của thị trường. Từ năm 2010 tới nay, cây chè đã giúp cho trên 30 hộ dân ở các thôn Mường Hum, Coóc Ngó, Ky Quan San, Piềng Láo vươn lên thoát nghèo và giải quyết việc làm, tăng thêm thu nhập cho hàng trăm lao động trong xã. Các hộ Phan Văn Giang, Tẩn Kim Vảng, Phạm Văn Hữu… trồng chè với quy mô lớn, thu vài chục đến trên 100 triệu đồng mỗi năm. Đứng vững trước những lao đao của thị trường tiêu thụ, cây chè ngày càng khẳng định được vị thế chủ lực nên sức bật cho Mường Hum trong phát triển kinh tế.

 

 Đặc sắc chợ phiên Mường Hum.

Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài chè, những loại cây lương thực giống mới cho năng suất cao như: lúa lai, ngô lai cũng bén duyên với đất Mường Hum, leo lên tận lưng núi Ky Quan San định cư thế chỗ cho những giống cũ kém hiệu quả. Nhờ đó tổng sản lượng lương thực có hạt của Mường Hum năm 2011 đạt gần 873 tấn. Khi biết tôi chuẩn bị có chuyến đi công tác ở Mường Hum, anh bạn gần nhà làm nghề bán hàng quán sang tận nhà dặn đi dặn lại là đừng quên mua giúp một ít thảo quả để làm gia vị chế biến lạp xường cho dịp tết nguyên đán. Thì ra Mường Hum còn nổi tiếng vì có hơn 79 ha thảo quả đang cho thu hoạch. Mùa thảo quả, vào nhà nào cũng thấy bao to, bao nhỏ chất thành đống. Hương thảo quả quyện lấy vạt áo thổ cẩm của những chàng trai, cô gái Dao từ nhà này sang nhà khác, lan tỏa thơm nức cả xóm. Người Dao trước đây theo tập quán cũ nhiều hộ chỉ biết phá rừng làm nương, cuộc sống quanh năm nghèo khó thì nay đã biết bảo vệ từng gốc cây rừng, tận dụng tán rừng già để trồng thảo quả, nhờ đó mà "đổi đời" từ loại cây dược liệu quý giá này. Đã từng đến Mường Hum không ít lần, vậy mà hôm nay trở lại đất này, tôi cũng phải ngỡ ngàng vì trung tâm xã đông vui, nhộn nhịp quá. Hai bên dãy phố mọc lên nhiều ngôi nhà hai tầng, ba tầng và hàng quán san sát. Ngẫm ra thì điều đó cũng không có gì khó hiểu. Mường Hum, dịch ra tiếng Kinh có nghĩa là làng giữa. Nằm ở vị trí đắc địa, Mường Hum trở thành trung tâm của các xã phía Đông Bắc vùng thượng huyện Bát Xát. Nhân dân các dân tộc ở Bản Xèo, Pa Cheo, Nậm Pung, Trung Lèng Hồ, Sàng Ma Sáo, Dền Thàng, Dền Sáng, Ý Tý đều quy tụ về đây giao lưu, trao đổi mua bán, nhất là những buổi chợ phiên. Vì thế kinh doanh dịch vụ và các ngành nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp có điều kiện để phát triển. Năm nay, từ chế biến gỗ, sản xuất chế biến chè, xay xát, khai thác cát sỏi, làm đồ thủ công mỹ nghệ, kinh doanh xe máy, dịch vụ vận tải hay buôn bán… đã đem lại doanh thu ước đạt gần 1 tỷ đồng cho Mường Hum.

Điều đáng nói là trong đội ngũ kinh doanh, buôn bán đó, nhiều hộ dân tộc Giáy, Dao, Mông năng động, linh hoạt với cơ chế thị trường nên đã trở thành những ông chủ, bà chủ có cơ ngơi khang trang chẳng kém gì ở thành phố.

Từ lâu, phố núi Mường Hum với vẻ đẹp thơ mộng đã đi vào các tác phẩm nghệ thuật và là niềm mơ ước được đặt chân tới khám phá của du khách bốn phương. Nơi đây có những dòng suối đẹp nổi tiếng, khí hậu mát mẻ, trong lành, phong cảnh núi non hùng vĩ mà thiên nhiên ưu ái ban tặng, có truyền thống lịch sử lâu đời và những bản sắc văn hóa độc đáo của đồng bào các dân tộc Giáy, Dao, Mông… nên trở thành một điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Việc khai thác tiềm năng du lịch hứa hẹn sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội Mường Hum khởi sắc hơn nữa. Là lòng chảo hội tụ của nhiều suối lớn, suối nhỏ, tiềm năng thủy điện ở Mường Hum sớm được phát hiện và cũng đang được đầu tư khai thác mạnh. Các nhà máy thủy điện: Mường Hum (32 MW), Nậm Hô (7,5 MW) đã phát điện và trong lương lai là các nhà máy Tà Lơi 1, Tà Lơi 2, Tà Lơi 3 cũng sẽ hoàn thành, đi vào hoạt động. Suối Mường Hum trở thành nguồn “vàng trắng” quý giá của quốc gia. Với nhiều tiềm năng, thế mạnh như thế, khi được khai thác hiệu quả thì sự hình thành của một phố núi Mường Hum sầm uất, hiện đại không chỉ còn trong mơ ước nữa… 

 

 Thu hoạch chè đặc sản.

Những ngày ở lại Mường Hum, tôi có dịp đi tham quan các thôn, bản để thấy được cuộc sống người dân nơi đây đổi thay thế nào. Vào thôn Ky Quan San, ông Tần Phù Trình, dân tộc Dao, năm nay ngoài 50 tuổi, đã có gần 15 năm được bà con tín nhiệm bầu làm Trưởng thôn, hồ hởi khoe: Năm nay ngô, lúa được mùa, bà con vui lắm. Các hộ: Tẩn Phù Chu, Phùng Sìn Kin, Tẩn Phù Nhàn, Tẩn Phù Sèo, Tấn Díu Hin… sau vụ gặt thu được trên 100 bao thóc, chất đầy nhà. Các hộ: Tẩn Vần Phù, Tẩn Tả Mẩy, Tẩn Lở Mẩy, Tẩn Duần Thiền, Tẩn Phù Vảng… phát triển chăn nuôi lợn cắp nách, có nhà mỗi năm bán từ 70 - 100 con lợn, thu lãi vài chục đến cả trăm triệu đồng. Theo kết quả xã mới bình xét, năm 2011 thôn Ky Quan San tiếp tục được công nhận là thôn văn hóa, có 65 hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa (chiếm trên 76%). Vui hơn nữa là bây giờ trẻ em trong thôn hầu hết được tới trường học chữ. Thôn tự hào vì có 4 cháu sau khi học xong phổ thông đã đỗ vào các trường cao đẳng, đại học. Tết này nhà nào cũng muốn mổ lợn, mổ gà ăn to hơn mọi năm để tiễn năm cũ, đón năm mới về sẽ thêm phần no ấm… Trong số 6 thôn, bản ở Mường Hum thì Tả Pờ Hồ là thôn xa nhất, cách trung tâm xã hơn 7 km, ô tô còn chưa tới được và chưa có điện lưới quốc gia. Thôn có 41 hộ, 100% là đồng bào dân tộc Dao đỏ sinh sống. Khác với tưởng tượng của tôi, khi đến Tả Pờ Hồ thì bản làng hiện ra đông vui với những nếp nhà truyền thống của người Dao nằm san sát nhau dưới chân núi chứ không mỗi nhà một mỏm đồi, buồn tẻ, heo hút. Thôn nằm xa trung tâm xã nên đồng bào còn nhiều thiệt thòi, nhưng nhờ chăm chỉ trồng lúa, trồng ngô, trồng cây thảo quả và đoàn kết, học hỏi nhau cách sản xuất mà cuộc sống của các hộ dân ngày càng khá giả. 5 năm qua, Tả Pờ Hồ đều đặn duy trì danh hiệu Làng văn hóa tiêu biểu… Không chỉ ở Ky Quan San, Tả Pờ Hồ mà với các thôn, bản khác như: Mường Hum, Coóc Ngó, Piềng Láo, Séo Pờ Hồ cuộc sống đồng bào cũng mỗi ngày lại tươi vui, đủ đầy hơn. Cho đến cuối năm nay, Mường Hum còn 58% hộ nghèo, giảm gần 10% so với năm trước; trên 70% số hộ trong xã đạt danh hiệu gia đình văn hóa; 5/6 thôn bản được công nhận thôn, bản văn hóa... Những kết quả đó phản ánh nỗ lực không ngừng của cấp ủy, chính quyền và nhân dân các dân tộc Mường Hum trên chặng đường xây dựng quê hương thêm giàu đẹp. 

Đêm Mường Hum, từ trên khu tập thể của công nhân Nhà máy Thủy điện Nậm Hô nhìn xuống, phố núi bừng sáng trong huyền ảo, lung linh muôn ngàn ánh điện. Dòng suối Mường Hum vẫn thức và thì thầm kể câu chuyện ngàn đời về rừng núi, sông, suối, về đất và người Mường Hum. Ngày mai, trước khi chia tay Mường Hum, tôi lại được ngắm một bình minh tuyệt đẹp, mặt trời tỏa sáng trên núi Ky Quan San hùng vĩ và những nụ hoa đào bé xíu rung rinh trong gió vẫy gọi xuân về… 

Theo Tuấn Ngọc báo Lào cai